Thứ Năm, 02/08/2018 | 13:57

Sinh non thường khiến trẻ vừa chào đời đã gặp phải không ít vấn đề về sức khỏe. Dưới đây là những bệnh nguy hiểm trẻ sinh non thường mắc phải.

Các bệnh nhiễm trùng

Trẻ sinh non thường có sức đề kháng yếu, do đó mắc các bệnh truyền nhiễm là điều không tránh khỏi. Một số bệnh nhiễm trùng có thể gây nguy hại cho trẻ sinh non như: nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm ruột hoại tử… Các bệnh nhiễm trùng thường khó phát hiện do hệ miễn dịch của bé vốn đã yếu, khó biểu hiện ra bên ngoài.

Hệ thống bảo vệ cơ thể:

Miễn dịch dịch thể:

– IgG: xuất hiện từ tuần lễ thứ 12, qua được nhau thai, trẻ có IgG thụ động của mẹ, IgG có khả năng chống lại một số siêu vi trùng gr (+) sinh mủ có bọc nhưng không chống được vi trùng gr (-).Trẻ sơ sinh nhiễm trùng gr (-) → gây tử vong cao.

– IgM: xuất hiền từ tuần lễ thứ 10, không qua được nhau thai, chống được vi trùng gr (-), siêu vi trùng.

– IgA: xuất hiện từ tuần lễ thứ 30, không qua được nhau thai, nếu có nồng độ tăng cao trong máu sơ sinh → chứng tỏ có nhiễm trùng sơ sinh trong bào thai.

Miễn dịch tế bào:

Miễn dịch tế bào cũng như khả năng thực bào vi trùng và siêu vi trùng còn yếu. Miễn dịch tế bào có từ tháng thứ 2 của thai kỳ nhưng đến 2 tuổi mới hoàn chỉnh (BC mới có khả năng thực bào).

– Da và niêm mạc:

+ Da sơ sinh mỏng dễ bị xây xát nên vi trùng dễ xâm nhập qua da.

+ Sau khi sanh không nên lau sạch lớp chất gây bên ngoài ít nhất trong 24 giờ tránh làm tổn thương da. Hút dịch hay đặt ống thông dạ dày cũng làm tổn thương da và là đường vào của vi khuẩn.

Phòng tránh nhiếm trùng

-Tắm bé hàng ngày bằng nước sạch, ấm và khăn mềm, với cháu non tháng vừa cần tắm nửa người trên của bé, lau khô, ủ ấm rồi mới tiếp tục tắm nốt phần còn lại, với trẻ quá non cần có kỹ thuật tắm bé trong lồng ấp.

 

– Thay băng rốn và sát khuẩn bằng cồn 70° hàng ngày sau khi tắm bé cho tới khi rốn rụng và khô thành sẹo.

– Các mẹ cũng cần chú ý vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần bé đi vệ sinh.

Đường lây nhiễm và yếu tố nguy cơ nhiễm trùng sơ sinh:

– Nhiễm trùng trong tử cung:

Nhiễm trùng trong tử cung có biểu hiện lâm sàng hay tiềm ẩn, do nhiều tác nhân: TORCH (T = Toxoplasmosis, Treponena palidum, O = Other (lậu, VGSV B, Uốn ván rốn, Sốt rét, HIV, Varicella virus…), R = Rubella, C = Cytomegalovirus, H = Herpes simplex virus). Mầm bệnh theo dòng máu qua nhau thai truyền cho con. Nhiễm trùng bào thai có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào trong thai kỳ. Triêu chứng lâm sàng có thể xảy ra ngay sau sinh, hoặc vài tháng, vài năm sau sinh.

– Nhiễm trùng ngược dòng:

+  Khi màng ối còn nguyên vẹn, hầu như thai/trẻ chưa thể tiếp cận với vi trùng gây bệnh.

+ Các loại vi sinh khu trú ở đường sinh dục mẹ có thể gây nhiễm trùng ối ngược dòng và/hoặc lưu trú trên trẻ sơ sinh lúc sinh. Sự lây nhiễm này thường xảy ra trong giai đoạn chuyển dạ sanh.

+ Viêm màng ối, vỡ ối lâu, giúp vi trùng xâm nhập vào dịch ối đến thai, hoặc hít, nuốt vi khuẩn trong lúc sinh, thủ thuật hồi sức, sanh không vô trùng, hoặc có những yếu tố làm cho tác nhân lưu trú trên trẻ bình thường không gây bệnh lại trở thành gây bệnh.

– Nhiễm trùng muộn sau sinh:

+ Sau sinh, trẻ sơ sinh bắt đầu tiếp xúc với mầm bệnh trong môi trường ngoài: phòng bú, cộng đồng…Mầm bệnh có thể truyền trực tiếp từ: nhân viên bệnh viện, mẹ, thành viên khác…

Hội chứng suy hô hấp (RDS):

Hội chứng suy hô hấp (RDS) là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sinh non. là vấn đề hô hấp phổ biến thường gặp ở trẻ sinh trước 34 tuần thai kỳ. Khi trẻ mới bắt đầu làm quen với môi trường bên ngoài tử cung, suy hô hấp có thể xuất hiện vài giờ hay vài ngày sau sinh. Trẻ bị suy hô hấp do thiếu surfactant, làm cho các phế nang trong phổi xẹp lại. Suy hô hấp cấp là một hội chứng của nhiều nguyên nhân gây nên

Ngưng thở:

Ngưng thở là hiện tượng ngưng hoạt động hô hấp kéo dài trên 20 giây. Trẻ sinh non đôi khi xảy ra ngưng thở và có thể xuất hiện nhịp chậm xoang.

Xuất huyết não thất (IVH):

Xuất huyết não thất là tình trạng chảy máu trong não. Nó thường xảy ra gần các não thất ở trung tâm nhu mô não. Não thất là khoảng trống trong não chứa đầy dịch não tủy.

Rối loạn tiêu hóa

Trẻ gặp rối loạn tiêu hóa thường có triệu chứng như hay nôn ói, trướng bụng, tiêu phân lỏng nhiều lần/ngày, lười bú và chậm tăng cân. Do ruột chưa phát triển hoàn thiện vì sinh non, bé còn có nguy cơ bị viêm hoại tử ruột hoặc thủng ruột nếu không điều trị đúng cách.

Còn ống động mạch (PDA):

Còn ống động mạch là vấn đề về tim mạch xảy ra ở vùng nối thông giữa 2 mạch máu lớn gần tim (còn gọi là ống động mạch).

Bệnh Còn ống động mạch thường gặp ở trẻ bị hội chứng suy hô hấp sơ sinh, rối loạn di truyền (như hội chứng Down), và trẻ sơ sinh có mẹ mắc bệnh sởi Đức (Rubella) trong khi mang thai.

Trong đa phần các trường hợp trẻ mắc bệnh còn ống động mạch nhưng có cấu trúc tim bình thường, ống động mạch sẽ co lại và tự biến mất trong vài ngày đầu sau sinh. Một số ống động mạch sẽ tự đóng khi trẻ được một tuổi.

Ở trẻ sinh non, ống động mạch có nhiều khả năng tiếp tục mở, đặc biệt là nếu trẻ có bệnh phổi. Lúc này cần xem xét các biện pháp điều trị đóng ống động mạch.

Nếu ống này không đóng đúng lúc sau sinh, trẻ có thể gặp vấn đề về hô hấp hoặc suy tim. Suy tim là tình trạng hoạt động tim không thể tống đủ máu đi nuôi toàn bộ cơ thể.

Hạ thân nhiệt

Hạ thân nhiệt là rối loạn chức năng điều hòa thân nhiệt do trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não non yếu, trương lực cơ yếu, giảm vận động để sinh nhiệt, diện tích da lớn hơn so với cân nặng, lớp mỡ dưới da kém phát triển, dễ mất nhiệt.

Cần giữ ấm cho trẻ vì để lạnh trẻ dễ bị phù cứng bì làm trầm trọng thêm bệnh lý của trẻ, có 2 phương pháp trợ giúp trẻ sơ sinh non tháng và nhẹ cân duy trì thân nhiệt là ủ ấm trong lồng ấp và phương pháp chuột túi.

Viêm ruột hoại tử (NEC):

Viêm ruột hoại tử là vấn đề ở ruột của trẻ, làm thay đổi tiêu hóa, bụng căng lên và tiêu chảy. Tình trạng này thường xảy ra 2-3 tuần sau sinh.

Hạ Calci

Hạ Calci với biểu hiện những cơn co cứng: Các ngón tay nắm chặt, chân duỗi thẳng. Hiện tượng này thường xảy ra ở tuần lễ đầu, có thể dẫn đến những cơn ngừng thở và thở nhanh, những cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim

Hạ Calci rất nguy hiểm. Nó có thể khiến trẻ sinh non bị:

Co thắt thanh quản: Trẻ ngạt thở, tím tái, khó thở chủ yếu thì thở vào, khó thở nhanh, co kéo lồng ngực, có thể nghe tiếng rít, khàn tiếng hoặc mất tiếng.

Khóc thét đỏ mặt, tím kéo dài nhiều giờ, khó dỗ, càng ru, càng cho bú càng khóc nhiều có thể chết do ngừng thở trong cơn khóc.

Sợ bú do co thắt các cơ dạ dày, cơ hoành, ruột, bàng quang… gây ọc sữa, nấc cục, són phân và nước tiểu ra tả lót.

Vàng da:

Vàng da là hiện tượng mắt và da trẻ có màu vàng. Trẻ bị vàng da do gan chưa phát triển đầy đủ hoặc hoạt động chưa tốt.

Thiếu máu:

Thiếu máu là khi trẻ không có đủ hồng cầu trưởng thành để vận chuyển oxy khắp cơ thể.

Bệnh về võng mạc

ROP không gây đau không đỏ không tạo nhử mắt và khi quan sát bên ngoài mắt trẻ không có biểu hiện gì đặc biệt. Bệnh không gây ảnh hưởng đến toàn thân (trẻ vẫn có thể bú được, tăng cân…). Chỉ phát hiện được bệnh khi trẻ được khám chuyên khoa mắt để sàng lọc ROP.

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non (ROP) đặc biệt nguy hiểm. Bệnh là sự phát triển bất thường các mạch máu ở mắt, có thể dẫn tới mù mắt.

Đối với trẻ sinh non, mạch máu võng mạc thường chưa được hoàn thiện, khiến thị giác của trẻ bị ảnh hưởng. Đặc biệt, khi nồng độ oxy trong máu quá cao (gặp nhiều trong thở oxy áp lực cao), nó sẽ khiến võng mạc của trẻ giãn nở và co thắt bất thường, gây tổn hại thị giác, có thể khiến mù lòa nếu bạn không kịp thời phát hiện và điều trị cho bé.

Trẻ đẻ non cần được sàng lọc tìm ROP, đối tượng và thời điểm sàng lọc phụ thuộc vào tuổi thai và cân nặng khi sinh. ROP không xuất hiện ngay sau sinh mà bệnh cần một khoảng thời gian để tiến triển.

Đối tượng cần sàng lọc ROP: Trẻ có cân nặng khi sinh dưới 1500g và hoặc tuổi thai < 35 tuần. Tuy nhiên chỉ định sàng lọc cũng có thể mở rộng hơn.

Khuyến cáo sàng lọc ROP: lần đầu ở tuần thứ 3 -4 sau sinh. Sau đó bác sĩ chuyên khoa mắt sẽ hẹn lịch khám và theo dõi tiếp theo (nếu cần thiết) hoặc quyết định điều trị nếu như thấy mức độ bệnh nặng cần can thiệp.

Tần suất theo dõi: 2 tuần 1 lần ( đối với trường hợp mạch máu võng mạc chưa hoàn thiện. Khám hàng tuần đối với trường hợp bị bong võng mạc hoặc có những dấu hiệu ban đầu của bệnh ROP.

Trường hợp phát hiện những dấu hiệu tiến triển của bệnh, bệnh nhân cần được nhanh chóng chuyển để trung tâm chẩn đoán- điều trị chuyên ngành. Trong trường hợp này, cần chuyển sớm không quá 2 tháng tuổi của trẻ để có điều kiện bảo toàn thị lực, thậm chí cả trong trường hợp nặng của bệnh ROP.

Trường hợp đi khám muộn sẽ khó điều trị và nguy cơ bị mù vĩnh viễn rất cao.

Lần khám tiếp theo: khám lại sau ngay 2 ngày và cần điều trị ngay nếu lần đầu phát hiện ra bệnh ở giai đoạn nặng.

Khám lại sau 1 tuần nếu lần đầu có nghi ngờ mắc bệnh.

Khám lại sau 2 tuần nếu lần trước chưa phát hiện ra bệnh ( khám cho đến khi trẻ đủ 42 tuần tuổi, tính từ ngày thụ thai hoặc tới khi các mạch máu ở võng mạc phát triển đầy đủ)

Theo hiệp hội ROP, các trường hợp ROP ở giai đoạn 1 và 2 thì nên khám đáy mắt 2 tuần 1 lần. Trường hợp ROP tự hồi phục thì nên theo dõi mỗi tháng 1 lần cho đến khi toàn bộ võng mạc có đầy đủ mạch máu. Sau đó trẻ non được tái khám 1 lần lúc 6 tháng tuổi.

Loạn sản phế quản – phổi (BPD):

Loạn sản phế quản – phổi (BPD) có thể gặp ở trẻ sinh non cũng như trẻ được điều trị bằng máy thở. Trẻ bị loạn sản phế quản – phổi đôi khi tăng lượng dịch trong phổi, gây hại và tổn thương cho phổi.

Rối loạn huyết học

Trẻ sinh non dễ thiếu máu cho tủy xương hoạt động kém: số lượng hồng cầu ít, huyết cầu tố giảm gây thiếu máu nhược sắc. Biểu hiện thường gặp ở trẻ chính là da xanh xao và chậm tăng cân. Số lượng bạch cầu và tiểu cầu ít .

Trẻ sinh non thiếu vitamin K nên dễ bị xuất huyết, các yếu tố đông máu như sinh sợi huyết, plasminogen, proconvertin, proaccelerin… đều giảm, đặc biệt prothrombin giảm nhiều (15 – 20%); các vitamin như A, D, E, K, … đều thiếu, cộng với sức bền thành mạch yếu vì thế trẻ rất dễ bị xuất huyết đặc biệt là xuất huyết não màng não.

Bệnh thường khởi phát đột ngột, diễn tiến rất nhanh đến tình trạng suy sụp toàn thân, từ vài phút đến vài ngày tùy theo mức độ xuất huyết não màng não. Trước khi có đợt xuất huyết cấp, trẻ thường có những biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu như: ọc sữa nhiều, bú kém hoặc bỏ bú, bức rứt, khóc thét…

Những bệnh nguy hiểm trẻ sinh non thường mắc phải

Bài liên quan: Bệnh về võng mạc ROP nguy hiểm đối với trẻ sinh non thế nào?

Yhocvn.net

BẠN ĐỌC PHẢN HỒI: 1 Nhận xét.

[…] cập nhật Bệnh rối loạn huyết học ở trẻ sinh non Những bệnh nguy hiểm trẻ sinh non thường mắc phải Bệnh về võng mạc ROP nguy hiểm đối với trẻ sinh non thế nào? Phlebodia, […]

Tin khác
Chúng tôi trên Facebook