Thứ Tư, 18/07/2018 | 08:34

Tiền sản giật – sản giật là hai thuật ngữ mô tả bệnh lý trong thai kỳ xảy ra bởi huyết áp tăng cao, protein trong nước tiểu, sưng, phù. Sản giật là giai đoạn phát triển của tiền sản giật. Đây là một trong 5 tai biến sản khoa gây ra biến chứng tử vong mẹ và con với tỉ lệ cao. Tiền sản giật và sản giật được chẩn đoán sau tuần thứ 20 của thai kỳ.

Các nguyên nhân sau đây làm tăng nguy cơ bị tiền sản giật và sản giật bao gồm:

– Mang thai vị thành niên,

– Tiền sử đã bị tiền sản giật,

– Bệnh béo phì,

– Mang đa thai,

– Có huyết áp cao,

– Tuổi lớn hơn 35.

Tình trạng này là rất nghiêm trọng và cần phải điều trị ngay lập tức.

Tiền sản giật – sản giật là biến chứng của những rối loạn tăng huyết áp trong thời kỳ có thai mà biểu hiện lâm sàng bằng những cơn co giật liên tục rồi kết thúc bằng hôn mê. Sản giật có thể xảy ra trước, trong và sau đẻ.

1.Triệu chứng lâm sàng của cơn sản giật.

Một cơn sản giật điển hình nhất thiết phải qua 4 giai đoạn: xâm nhiễm, giật cứng, giãn cách và hôn mê.

– Giai đoạn xâm nhiễm (chừng 30 giây đến 1 phút) với các triệu chứng chủ yếu như sau: những cơn kích thích ở mặt, cổ là chủ yếu, không lan tới tay, nét mặt nhăn nhúm, hai mắt hấp háy.

– Giai đoạn giật cứng (chừng 30 giây): các cơ toàn thân co giật cứng, thân uốn cong và co cứng. Các cơ thanh quản co thắt làm cho bệnh nhân thở rít lên, tình trạng ngạt thở làm cho bệnh nhân tím tái, tay giật như người đánh trống, lưỡi thè ra thụt vào nên dễ cắn phải lưỡi, nhân cầu đảo đi đảo lại.

–  Giai đoạn giãn cách: sau cơn co giật toàn thân, bệnh nhân thở vào được một hơi dài, tình trạng thiếu oxy tạm thời chấm dứt. Nhưng sau đó lại có những cơn kích động, nét mặt lại nhăn nhúm, lưỡi thè ra thụt vào rồi chuyển sang giai đoạn hôn mê.

– Giai đoạn hôn mê: tuỳ theo tình trạng của bệnh nặng hay nhẹ mà xuất hiện hôn mê nông hay hôn mê sâu. Trong khi hôn mê, bệnh nhân mất tri giác, đồng tử giãn, tiểu tiện không tự chủ và bệnh nhân có thể chết trong tình trạng hôn mê kéo dài.

Có một đặc điểm là trong khi hôn mê, nếu bệnh nặng, có thể vẫn xuất hiện những cơn giật.

2.Triệu chứng cận lâm sàng:

Acid uric huyết thanh tăng cao: Urê huyết thanh và urêatinin huyết thanh tăng cao, số lượng tiểu cầu trong đa số trường hợp bị giảm xuống, soi đáy mắt, có thấy xuất hiện dấu hiệu Gunn, phù hoặc xuất huyết võng mạc.

3.Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định: dựa vào cơn sản giật bắt buộc phải qua 4 giai đoạn đã mô tả như trên

Chẩn đoán phân biệt:

  • Cơn hạ canxi huyết thanh (cơn Tétani)
  • Cơn động kinh
  • Hôn mê do đái tháo đường
  • Hôn mê do gan, do urê huyết thanh cao

4.Biến chứng của sản giật

Biến chứng cho mẹ: cắn phải lưỡi, phù phổi cấp, suy tim, suy gan, suy thận, xuất huyết não, tử vong (đa số do phù phổi cấp, suy thận hoặc xuất huyết não).

Biến chứng cho con: thai chết lưu trong tử cung, thai kém phát triển, chết sau đẻ, đẻ non (do tỉ lệ can thiệp tăng cao).

5.Thái độ xử trí:

Điều trị nội khoa và điều dưỡng: ngoài những điểm như TSG, cần chú ý và làm thêm:

  • Ngáng miệng đề phòng cắn phải lưỡi
  • Hút đờm dãi
  • Thở oxi
  • Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch

Thuốc: cần sử dụng

  • Magie Sunphat 4-6 g tiêm tĩnh mạch chậm trong 10-15 phút. Sau đó cứ 1 giời tiêm 1g vào bắp thịt cho đến khi kiểm soát được sản giật.

Chú ý tác dụng phụ của Magie sunphat.

  • Seduxen 10 mg. Cứ 1-2 giờ tiêm 1 ống 10mg vào tĩnh mạch cho đến khi khống chế được cơn giật.
  • Thuốc hạ áp:

+ Hydralazin (Neprenol) 5 mg tiêm tĩnh mạch chậm + Aldomet

+ Adalat 10 mg ngậm dưới lưỡi trong trường hợp cần thiết.

  • Lợi tiểu: Lasix 20 mg: 1-2 ống tiêm tĩnh mạch. Nếu chưa có nước tiểu thì tăng liều cho đến khi có nước tiểu. Cần cho thêm Kaliorite
  • Kháng sinh: nhóm Bêta lactamin: Ampixilin, Augmentin…

Điều trị sản khoa: Chung cho cả tiền sản giật và sản giật: nếu đáp ứng với điều trị thì tiếp tục cho thai nghén phát triển, nếu không đáp ứng với điều trị thì đình chỉ thai nghén. Sau khi cắt cơn sản giật, nếu thai sống thì tốt nhất là mổ lấy thai.

Bài liên quan: Chảy máu thai kỳ: Y học chuyên sâu về nguyên nhân và hướng xử trí

Yhocvn.net (Theo ĐH Y HN)

BÀI LIÊN QUAN

Bệnh rối loạn huyết học ở trẻ sinh non... Trẻ sinh non thường mắc phải rất nhiều loại bệnh như vàng da, rối loại chuyển hóa, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thân nhiệt, suy hô hấp, bệnh võng mạc R...
Những bệnh nguy hiểm trẻ sinh non thường mắc phải... Sinh non thường khiến trẻ vừa chào đời đã gặp phải không ít vấn đề về sức khỏe. Dưới đây là những bệnh nguy hiểm trẻ sinh non thường mắc phải. Các bệ...
Bệnh về võng mạc ROP nguy hiểm đối với trẻ sinh no... ROP là bệng lý võng mạc ở trẻ sinh non do sự rối loạn tăng sinh của võng mạc do ngưng tiến triển tạo mới mạch máu võng mạc, gây mù cho trẻ. Bệnh về võ...

Chưa có bình luận.

Tin khác
Chúng tôi trên Facebook