Thứ Năm, 15/10/2020 | 18:44

Lột da mặt, kỹ thuật, biến chứng

Lột da mặt là phương pháp lấy bớt lớp ngoài của da (danh từ y học là tầng sừng) gồm các tế bào da bị thoái hóa, dày lên và chứa đựng nhiều bệnh tích của sự lão hóa. Thuốc lột thường là các hóa chất, tác dụng lên da mặt, ăn mòn các lớp da phía ngoài. Sau đó, lớp da này sẽ được tái tạo từ các phần phụ của thượng bì còn lại trong lớp bì. Tiến trình này bắt đầu trong vòng 24 giờ sau khi da bị lột và thường hoàn tất sau 5-10 ngày. Lớp hạ bì được tái tạo chậm hơn sau 40 – 56 ngày; ở người lớn tuổi có thể kéo dài đến 90 ngày. Giới hạn của kỹ thuật này là có thể để lại sẹo xấu và sự tăng sắc tố. Các hóa chất và công thức khác nhau được chọn lựa sử dụng tùy theo độ sâu của lớp da cần lột. Hóa chất thâm nhập sâu vào lớp bì có thể hủy hoại phần lớn các phần phụ của da làm vết lột chậm lành và có sẹo. Tùy theo độ sâu của lớp da bị ăn mòn, người ta chia lột da mặt làm ba loại:

– Lột nhẹ: Lấy hết lớp biểu bì đến tầng tế bào đáy nằm giữa phần biểu bì và bì.

– Lột trung bình: Độ sâu đến phần gai bì của da.

– Lột sâu: Phần da lột sâu đến phần tổ chức mạng của da.

Lột da mặt
Lột da mặt

Yêu cầu đối với thuốc lột mặt là cách dùng đơn giản nhất, ít biến chứng cho da mặt và ít nguy hiểm cho sức khỏe người sử dụng. Với các yêu cầu đó, thuốc lột da bằng axit trichloroacetic (gọi tắt là TCA) đáp ứng được các yêu cầu đó. Thuốc này không độc cho cơ thể, không gây dị ứng. Các dung dịch pha vào nước có thể dùng ở các nồng độ khác nhau khi cần thiết. Sau khi pha chế, thuốc có thể giữ được khoảng hai năm.

Bảng phân loại của Fitzpatrick dựa vào màu sắc và phản ứng của từng loại da với ánh nắng mặt trời là cơ sở chính để đánh giá tình trạng da trước khi có chỉ định dùng các phương pháp lột bằng hóa chất.

 -Type I: Da rất nhạy cảm, luôn luôn bị bỏng nắng và không bao giờ rám nắng.

Da trắng, rất sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh, có nhiều tàn nhang.

-Type II:  Da rất dễ nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, thường bị bỏng nắng và khó rám nắng. Da trắng sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh hay nâu đỏ.

-Type III: Da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, có thể rám nắng nhưng đôi khi bị bỏng nhẹ. Da màu beige, trắng với bất kỳ màu mắt hay màu tóc nào, rất thường gặp.

-Type IV: Da hiếm khi bị bỏngnắng và dễ rám nắng.

Da màu beige hơi nâu, đặc trưng của da người vùng Địa Trung Hải.

-Type V: Da ít nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, rất dễ rám nắng và rất hiếm khi bỏng nắng. Da nâu, đặc trưng của da người gốc Tây Ban Nha.

-Type VI: Da rất dễ rám nắng và không bao giờ bị bỏng nắng. Da đen.

Người có loại da thuộc type I, II, III có thể hy vọng chịu được sự lột da với ít biến đổi về sắc tố trong khi người có loại da sậm màu hơn có nguy cơ rất cao về sự biến đổi sắc tố không mong muốn khi lột da. Bác sĩ phải thật cẩn thận khi chỉ định lột da bằng hóa chất cho người có tiền sử bệnh tim, gan, thận và các hóa chất được sử dụng cũng thay đổi tùy theo bệnh lý. Việc dùng nội tiết tố, thuốc ngừa thai, Isotretinoin hay các thuốc nhạy cảm với ánh sáng cũng có thể dẫn đến sự biến đổi sắc tố không biết trước và thành sẹo xấu. Tốt nhất là nên ngưng sử dụng các thuốc kể trên vài tuần trước khi quyết định lột da.

Kỹ thuật lột da

Da mặt cần được chuẩn bị sạch trước hai tuần. Người bệnh cần sẵn sàng để lột, không trang điểm khi đến phòng mạch. Da mặt được làm sạch bằng axit glycolic 5%, sau đó sát trùng với cồn 70 độ.

Không dùng acetone hay các chất tẩy da khác để rửa da vì các chất này có thể làm cho bệnh nhân khó chịu và khiến TCA ngấm vào sâu hơn trong da. Tác dụng của các chất thuốc rửa da là làm sạch lớp biểu bì, làm cho mỏng và sạch lớp tầng sừng. Nếu cần lột da sâu, có thể tăng nồng độ axít hoặc lột da bằng cách thoa thuốc nhiều lần.

Sau khi rửa sạch da, khách được đặt nằm trên bàn mổ (đầu cao khoảng 45 độ). Tư thế này làm cho thuốc lột không chảy vào mắt. Không cần sử dụng máy theo dõi nhịp tim mặc dù có thể bác sĩ muốn có sẵn đường truyền tĩnh mạch để truyền các thuốc an thần. Cảm giác bị nóng do lột bằng TCA thường nhẹ và sẽ hết trong vài phút.

Cách lột da được áp dụng chung cho tất cả các dung dịch thuốc lột có nồng độ khác nhau. Bác sĩ sẽ dùng miếng gạc nhỏ xếp lại làm đôi để bôi thuốc TCA lên da. Dùng que bông để bôi thuốc lên da cũng được nhưng không đủ mạnh để thuốc thấm đều lên da.

TCA là hóa chất có tác dụng tốt và làm đông chất protein ở da, làm cho da trắng nhanh và càng căng vùng trắng. Tính chất khi lột nhẹ và lột trung bình có thể sắp theo thứ tự như sau:

– Da không có màu trắng: Da có vẻ bóng và láng hơn nhưng không thay đổi màu sắc. Đây là trường hợp chỉ lột lớp biểu bì bên ngoài.

– Da có trắng nhẹ không đều: Thêm vào vẻ bóng sáng của da, trên da thấy rải rác các điểm trắng.

Đây là lột da sâu giữa lớp biểu bì.

– Da trắng hoàn toàn với màu hồng phía dưới: Là lột da sâu đến tầng đáy của biểu bì.

– Da trắng cứng và không có lớp hồng ở dưới: Đây là lột da sâu đến hết gai bì và bì.

Người ta dùng TCA nồng độ từ 10% đến 25% để lột da ở sâu biểu bì và nồng độ 30% đến 40% để lột da sâu đến gai bì và bì. Chiều sâu của lớp da được lột phụ thuộc vào sự chuẩn bị trước, độ nhờn, bề dày của da, số lượng chất axit được dùng. Việc bôi lại chất axit trên da đã trắng sẽ làm axit thấm sâu vào da hơn. Do đó, để an toàn, nên dùng TCA nồng độ thấp và bôi nhiều lần khi cần.

Sau khi bôi thuốc, lột đến độ sâu cần thiết, bác sĩ sẽ lau mặt người bệnh với nước thông thường. Điều này giúp pha loãng chất axit ứ đọng, ngăn không cho axit thấm sâu. Sau đó, thoa da bằng kem Hydrocortisone 1% cho da được ướt đều. Điều này làm bệnh nhân dễ chịu và giảm cảm giác ngứa.

Sau khi lột da mặt bằng TCA

Người được bôi thuốc TCA nên rửa mặt hai lần mỗi ngày với các loại xà phòng rửa mặt nhẹ và bôi da bằng kem Hydrocortisone 1% thường xuyên cho da được mềm. Không cần bôi kháng sinh. Các trường hợp lột mặt mạnh (sâu trung bình) có thể uống kháng sinh trong 5-7 ngày sau khi lột da. Vì việc lột da không tạo vết thương hở nên không cần dùng kháng sinh trước và trong khi lột da.

Nếu bị nhiễm trùng da (do vi trùng staphylococcus hay streptococcus, hiếm gặp), nên dùng thuốc kháng sinh cephalosporin, uống ngày hai lần.

– Lột nhẹ (biểu bì): Lành trong 3 đến 4 ngày.

– Lột sâu hơn (gai bì): Lành trong 6 đến 8 ngày.

Điều quan trọng là 48 giờ sau khi da lột được lành, bệnh nhân phải dùng thuốc Retin-A hay axit alphahydroxy cùng với hydroquinone và thuốc che nắng phổ rộng. Da trở lại bình thường sau khi bôi thuốc hai tháng. Trong thời gian đó, bệnh nhân phải tránh nắng, được theo dõi và dùng thuốc dưỡng da thích hợp. Do không gây các vết thương sâu nên các biến chứng như sẹo, nhiễm trùng, da bị đỏ kéo dài và mất màu vĩnh viễn rất ít xảy ra.

Kết quả của phương pháp lột da bằng TCA theo thời gian

Lột da sâu có kết quả rất lâu. Với phương pháp lột nhẹ, nếu có dùng thêm các thuốc dưỡng da thì kết quả lâu hơn, có thể kéo dài đến cả năm (nếu không dưỡng da, kết quả chỉ được khoảng 3 tháng). Ở các trường hợp lột sâu, tác dụng kéo dài đến nhiều năm. Thời điểm bôi thuốc lột lần kế tiếp được xác định tùy theo lần lột đầu là nhẹ hay mạnh. Nếu lột nhẹ, có thể lột lại sau một hai tuần. Nếu lột sâu trung bình, cần chở 6 tuần và nếu lột sâu thì phải chờ ít nhất 2 tháng. Tóm lại, TCA là thuốc lột da mới dễ dùng và ít tai biến, là phương tiện an toàn để làm trẻ hóa da mặt, đem lại mùa xuân cho da mặt, góp cơ thể con người

Chăm sóc sau lột da mặt

Việc chăm sóc da sau lột và tránh nắng rất quan trọng, giúp da chóng lành, không để lại sẹo cũng như nhiều biến chứng không mong muốn khác.

Biến chứng có thể xảy ra khi lột da mặt

Lột da mặt có thể giúp tái tạo làn da, cải thiện chất lượng của da mặt nhưng cũng có thể gây nhiều biến chứng không mong muốn liên quan đến độ sâu da cần lột, loại da bệnh nhân và hóa chất lột được sử dụng.

Da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, một trong những nguyên nhân gây ung thư da. Bệnh nhân được khuyến cáo hạn chế ra nắng từ 6-12 tháng và phải thường xuyên dùng kem chống nắng; Hồng ban có thể lặn trong vòng 90 ngày nhưng cũng có thể tồn tại lâu dài kèm biểu hiện tăng sắc tố và ngứa nhiều. Nhóm người có nguy cơ cao: đang dùng thuốc ngừa thai, thuốc nhạy cảm với ánh sáng; Da mất sắc tố do các tế bào hắc tố bị hủy hoại không hồi phục trong quá trình lột dưới tác dụng của hóa chất, đặc biệt là Phenol; Sẹo teo da do vết lột chậm lành. Biến chứng này rất trầm trọng, đòi hỏi sự chăm sóc da sau lột thật kỹ và điều trị tích cực chóng lành; Nhiễm trùng là biến chứng thường gặp, đặc biệt do vi khuẩn Pseudomonas, do virus Herpes bùng phát; Xuất huyết tại vị trí lột sâu có thể xảy ra ở người đang dùng thuốc làm loãng máu như warfarin. Bệnh nhân đang dùng aspirin được khuyến cáo nên tạm ngưng dùng thuốc ít nhất 1 tuần trước khi quyết định lột sâu; Một số trường hợp lột da không hiệu quả.

Yhocvn.net

BÀI UCNGF CHỦ ĐỀ:

+ Trẻ hóa da bằng IPL và tất cả nhưng gì cần biết: tác dụng phụ, chăm sóc, chuẩn bị

+ Phi kim trị sẹo thâm, sẹo rỗ: Quy trình, tác dụng và chăm sóc

Chưa có bình luận.

Tin khác
Chúng tôi trên Facebook