Yhocvn.net, Y học Bạch Mai https://yhocvn.net Cẩm nang y học Việt nam Sun, 05 Jul 2020 09:51:29 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=5.4.2 Xét nghiệm vi khuẩn Hp (Test Hp) qua hơi thở: ưu, nhược điểm và các bước thực hiện https://yhocvn.net/xet-nghiem-hp-test-hp-qua-hoi-tho-uu-nhuoc-diem-va-cac-buoc-thuc-hien.html Sat, 04 Jul 2020 15:19:35 +0000 https://yhocvn.net/?p=412755 Xét nghiệm Hp (Test Hp) qua hơi thở: ưu, nhược điểm và các bước thực hiện Các bước chuẩn bị, thực hiện xét nghiệm Hp qua hơi thở Nội soi dạ dày là “nỗi ám ảnh” đối với nhiều người. Test Hp bằng hơi là giải pháp cho những người ôm ấp nỗi sợ phải […]

The post Xét nghiệm vi khuẩn Hp (Test Hp) qua hơi thở: ưu, nhược điểm và các bước thực hiện appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Xét nghiệm Hp (Test Hp) qua hơi thở: ưu, nhược điểm và các bước thực hiện

Các bước chuẩn bị, thực hiện xét nghiệm Hp qua hơi thở

Nội soi dạ dày là “nỗi ám ảnh” đối với nhiều người. Test Hp bằng hơi là giải pháp cho những người ôm ấp nỗi sợ phải soi dạ dày. Bằng cách xét nghiệm vi khuẩn Hp (test vi khuẩn Hp) bác sĩ sẽ chẩn đoán được chính xác bạn có nhiễm vi khuẩn Hp hay không? Vi khuẩn Hp chính là kẻ không chỉ gây nên bệnh viêm dạ dày, viêm tá tràng và loét dạ dày ở người mà còn là nguyên nhân gây ung thư dạ dày thể tuyến (gastric adenocarcinoma) và các u lympho của mô lympho liên quan với màng nhầy (mucosa-associated lymphoid tissue lymphomas: MALT)

Đặc điểm sinh vật học của vi khuẩn Hp.

Vi khuẩn Hp là trực khuẩn hình cong xâm nhiễm và phát triển trong lớp màng nhầy lót phía trong dạ dày người. Trong khi hầu hết các vi sinh vật khác bị chết trong môi trường acid dạ dày thì Hp lại phát triển tốt nhờ sản xuất ra một lượng lớn men Urease.

Men này xúc tác thủy phân Urea trong dạ dày thành Amoniac (NH3) và acid Carbonic (H2CO3). Chính Amoniac làm tăng độ pH trong dạ dày nơi vi khuẩn Hp cư ngụ và tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn này sống sót và phát triển. Bên cạnh đó, men Urease còn giúp vi khuẩn Hp bám vào màng nhầy dạ dày, nhờ vật mà nó ít bị đẩy ra ngoài khi dạ dày co bóp.

Nguyên lý của test Hp bằng hơi thở

Trước khi kiểm tra hơi thở, người bệnh sẽ được uống 1 viên thuốc hoặc 1 dung dịch có chứa Urea gắn phân tử Carbon đồng vị C13 hoặc C14. Nếu có Hp trong dạ dày thì Hp sẽ tạo ra men urease và thủy phân Urea trong thuốc uống vào thành Amoniac và khí Carbonic.

Khí Carbonic với phân tử C13 hoặc C14 này được hấp thu vào máu và đào thải qua phổi. Người ta sẽ đo lượng C13 hoặc C14 thải ra trong hơi thở của người thử, từ đó xác định được vi khuẩn Hp có hoạt động (sinh ra urease) trong dạ dày không.

Chuẩn bị cho test Hp bằng hơi thở

Cần nhịn ăn, uống đồ uống có gas, đồ ngọt, đồ có tính chất acid hoặc base trong thời gian 4-6 giờ trước khi làm xét nghiệm kiểm tra Hp qua hơi thở. Thời điểm tốt nhất là vào buổi sáng sau 1 đêm không ăn uống gì.

Cũng giống như các phương pháp xét nghiệm Hp khác, test hơi thở chỉ nên tiến hành sau khi ngừng thuốc kháng sinh ≥ 4 tuần, và ngừng thuốc kháng tiết acid ≥ 2 tuần.

Trao đổi với bác sĩ về các bệnh lý bạn đang mắc phải, về tiền sử dị ứng thuốc, bạn đang có thai?…

Nếu bạn đang uống thuốc điều trị bệnh lý gì khác, không được tự ý ngưng thuốc mà hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước.

Cách thực hiện test Hp bằng hơi thở

+ Người thử được uống 1 viên thuốc có chứa đồng vị C14 hoặc dung dịch có chứa C13 và sau đó ngồi nghỉ.

+ Sau 15 phút, người thử thổi vào dụng cụ xét nghiệm là thẻ xét nghiệm với C14 hoặc thổi bong bóng với C13 cho đến khi thiết bị hoặc kỹ thuật viên báo hiệu đã đủ lượng CO2 cho 1 lần xét nghiệm. Thời gian thổi trung bình là 5-10 phút, tùy vào lượng hơi mà mỗi người thổi.

+ Sau đó, nhân viên kỹ thuật sẽ điều khiển thiết bị đo lường nồng độ Carbon đánh dấu và thông báo kết quả cho người thử (sau khoảng 3-5 phút)

Ưu nhược điểm của phương pháp xét nghiệm Hp bằng hơi thở

– Ưu điểm:

+ Độ nhạy cao:

Độ nhạy của xét nghiệm lên tới 95% cho phép phát hiện lượng vi khuẩn Hp hoạt động ở mức độ rất thấp.

+ Độ chuyên biệt cao:

Lên tới 96% giúp tránh sai sót do tác động của các loại vi khuẩn sinh Urease khác.

+ Độ chính xác cao:

Độ chính xác của phương pháp lên tới 88% đưa phương pháp test hơi thở trở thành một phương pháp tin cậy trong kiểm tra và theo dõi nhiễm khuẩn Hp.

+ Tiết kiệm thời gian:

Toàn bộ quá trình kiểm tra chỉ diễn ra tối đa là 30 phút, bệnh nhân có thể tới các cơ sở thực hiện test thở này và yêu cầu làm ngay.

+ An toàn, không gây đau:

Phương pháp xét nghiệm vi khuẩn Hp bằng test thở hoàn toàn không gây đau đớn, khó chịu cho người bệnh.

Mặc dù C14 là đồng vị có tính phóng xạ của Carbon, tuy nhiên, lượng phóng xạ của mỗi lần làm test là cực thấp, không gây ra bất kỳ ảnh hưởng bất lợi đáng kể nào cho cơ thể.

Tuy nhiên, trẻ dưới 8 tuổi vẫn được khuyến cáo nên sử dụng test thở với C13 để đảm bao an toàn hơn, nhưng giá thành lại cao hơn nhiều so với test thở C14.

Có thể thực hiện để kiểm tra hiệu quả điều trị Hp:

Bệnh nhân sau khi điều trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp với một phác đồ điều trị đều cần phải kiểm tra lại tình trạng nhiễm khuẩn Hp. Thực hiện xét nghiệm test thở kiểm tra vi khuẩn Hp là một sự lựa chọn hoàn hảo.

– Nhược điểm:

Chỉ có tác dụng phát hiện sự có mặt của vi khuẩn Hp, không có giá trị chẩn đoán những tổn thương trong dạ dày, tá tràng, niêm mạc thực quản do đó mà có thể bỏ sót các tổn thương đường tiêu hóa trên như viêm loét dạ dày tá tràng, polype và các loại u thực quản, dạ dày…Vì vậy mà phương pháp này thường không được chỉ định cho đối tượng có các dấu hiệu nguy hiểm như: nôn hay đại tiện ra máu, đau dạ dày dai dẳng, sụt cân bất thường, chán ăn, ăn không ngon, người lớn tuổi…

Địa chỉ uy tín để thực hiện xét nghiệm Hp qua hơi thở:

Phòng khám Phương Mai – Chuyên khoa khám Nội, nội soi tiêu hóa, siêu âm

Địa chỉ: Số 3 ngõ 38 Phương Mai, Phường Phương Mai, Quận Đống Đa, TP.HN

Điện thoại: 092 999 3638

Tư vấn chuyên môn: Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai

Yhocvn.net

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Vi khuẩn Hp dương tính khi xét nghiệm có ý nghĩa gì?

+ Nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP) có trở thành ung thư?

+ Trẻ bị nhiễm Hp dạ dày tăng nhanh và giải pháp điều trị mới

The post Xét nghiệm vi khuẩn Hp (Test Hp) qua hơi thở: ưu, nhược điểm và các bước thực hiện appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Nên làm xét nghiệm vi khuẩn Hp khi nào, để làm gì, các phương pháp test Hp? https://yhocvn.net/nen-lam-xet-nghiem-vi-khuan-hp-khi-nao-de-lam-gi-cac-phuong-phap-test-hp.html Sat, 04 Jul 2020 04:41:29 +0000 https://yhocvn.net/?p=412742 Nên làm xét nghiệm vi khuẩn Hp(Helicobacter pylori) khi nào, để làm gì, các phương pháp test Hp? Nhiễm khuẩn Hp (Helicobacter pylori) là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến hiện nay trong cộng đồng. Đây là một loại xoắn khuẩn gram âm, ký sinh trong lớp nhày trên bề mặt niêm mạc dạ […]

The post Nên làm xét nghiệm vi khuẩn Hp khi nào, để làm gì, các phương pháp test Hp? appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Nên làm xét nghiệm vi khuẩn Hp(Helicobacter pylori) khi nào, để làm gì, các phương pháp test Hp?

Nhiễm khuẩn Hp (Helicobacter pylori) là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến hiện nay trong cộng đồng. Đây là một loại xoắn khuẩn gram âm, ký sinh trong lớp nhày trên bề mặt niêm mạc dạ dày, là loại vi khuẩn duy nhất có khả năng tồn tại trong môi trường acid đậm đặc của dạ dày và có thể gây viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, ung thư dạ dày và nhiều bệnh lý khác. Bệnh nhân thường lo lắng khi được chỉ định làm xét nghiệm Hp mà câu hỏi thường gặp là xét nghiệm Hp để làm gì? Khi nào cần thực hiện xét nghiệm Hp? Quy trình thực hiện như thế nào? Bác sĩ Đỗ Anh Giang – Phó trưởng khoa Thăm dò Chức năng, Bệnh viện Bạch Mai sẽ giải đáp những thắc mắc của nhiều bệnh nhân trong cuộc phỏng vấn với yhocvn.net.

PV: Xin bác sĩ cho biết xét nghiệm Hp giúp ích gì cho bác sĩ và bệnh nhân?

Ths. Bs Đỗ Anh Giang: Đối với chúng tôi thông qua kết quả xét nghiệm Hp các bác sĩ sẽ biết được bệnh nhân có nhiễm vi khuẩn Hp hay không? từ đó sẽ đưa ra các chỉ định tiếp theo là có cần thiết tiến hành việc soi dạ dày, tá tràng để phát hiện vết loét hay các bệnh lý khác không?

Đối với bệnh nhân sợ đau thì có thể lựa chọn phương pháp này. Test vi khuẩn HP bằng hơi thở không xâm lấn, không đau, an toàn, chính xác, được áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện, phòng khám có uy tín hiện nay.

PV: Bác sĩ cho biết có những cách nào để phát hiện vi khuẩn Hp

Ths. Bs Đỗ Anh Giang: Tùy vào mức độ, dấu hiệu, nguy cơ của bệnh và mong muốn của bệnh nhân mà chúng sẽ chỉ định phương pháp thực hiện:

– Xét nghiệm vi khuẩn Hp bằng hơi thở

Có 02 dạng để thực hiện:

+ Dạng 1: Test hơi thở bằng bóng – Bệnh nhân thổi vào thiết bị test có hình dạng như quả bóng.

+ Dạng 2: Test hơi thở bằng thẻ – Bệnh nhân thổi vào thiết bị test có hình dạng như tấm thẻ ATM.

Sau khi thổi vào thiết bị test, hơi thở của bệnh nhân sẽ được đem đi kiểm tra, phân tích và đánh giá các chỉ số. Mỗi chỉ số sẽ cho biết bệnh nhân âm tính hay dương tính với HP.

Phương pháp này đặc biệt phù hợp với trẻ nhỏ vì thời gian test hơi thở nhanh gọn, không đau đớn. Phương pháp xét nghiệm Hp này phù hợp với cả người từng điều trị HP và muốn kiểm tra lại kết quả sau điều trị.

– Phương pháp xét nghiệm máu tìm vi khuẩn Hp

Những người bị nhiễm khuẩn Hp thì cơ thể sẽ có kháng thể với Hp. Loại kháng thể này thường tìm thấy trong máu thông qua phương pháp xét nghiệm. Đây là phương pháp kiểm tra Hp khá phổ biến và được nhiều nơi ưa dùng.

Tuy nhiên, xét nghiệm máu vẫn có thể cho kết quả dương tính giả, độ chính xác không cao. Nguyên nhân thường là do HP có khả năng xuất hiện ở các vị trí khác như: đường ruột, khoang miệng, xoang,… Kể cả người bệnh đã điều trị diệt trừ HP khỏi hẳn nhưng vẫn còn kháng thể lưu lại trong máu.

Do đó, phương pháp xét nghiệm máu tìm HP phù hợp với đối tượng muốn sàng lọc xác định xem mình có nhiễm vi khuẩn HP hay không. Phương pháp này có ưu điểm là rẻ tiền kết quả nhanh chóng và kỹ thuật thực hiện tương đối đơn giản…

– Phương pháp xét nghiệm phân tìm vi khuẩn HP

Vi khuẩn HP nếu tồn tại trong dạ dày thì chúng sẽ được đào thải ra khỏi cơ thể qua phân. Do đó, phương pháp xét nghiệm phân để tìm vi khuẩn HP cũng mang lại kết quả chính xác.

Với những bệnh nhân bị viêm loét dạ dày – tá tràng nhẹ thì có thể lựa chọn phương pháp này. Quá trình test không tốn nhiều thời gian và chi phí. Cách lấy mẫu tương đối đơn giản: người bệnh tự lấy mẫu phân, cho vào lọ sạch, có nắp kín và đem tới nơi test phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ. Tuy nhiên đây là phương pháp bệnh nhân không muốn thực hiện do đó không nhiều cơ sở áp dụng phương pháp này.

Phương pháp xét nghiệm Hp bằng hơi thở là phương pháp được chúng tôi khuyến khích sử dụng đối với các bệnh nhân sợ đau, sợ can thiệp và đối tượng chỉ cần xác định còn HP hay không sau điều trị tiệt trừ. Mỗi lần test hơi thở dao động khoảng 400 – 600 ngàn đồng tùy vào mỗi bệnh viện, cơ sở khám bệnh.

Test thở xác định HP là phương pháp cho kết quả chính xác cao và là một trong những cách để xác định bệnh nhân có bị nhiễm vi khuẩn HP – một loại vi khuẩn có khả năng gây viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, ung thư dạ dày và những bệnh lý khác.

Địa chỉ uy tín để thực hiện xét nghiệm Hp qua hơi thở:

Phòng khám Phương Mai Chuyên khoa khám Nội, nội soi tiêu hóa, siêu âm

Địa chỉ: Số 3 ngõ 38 Phương Mai, Phường Phương Mai, Quận Đống Đa, TP.HN

Điện thoại: 092 999 3638

Tư vấn chuyên môn: Bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai

Yhocvn.net

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Vi khuẩn Hp (helicobacter pylori) sống như thế nào, thực phẩm nào trị được vi khuẩn Hp

+ Cảnh bảo sự nguy hiểm của vi khuẩn Hp và đường lây nhiễm

+ Hiểu sai về vi khuẩn Hp

The post Nên làm xét nghiệm vi khuẩn Hp khi nào, để làm gì, các phương pháp test Hp? appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Cảnh báo nguy hiểm từ thiết bị dụng cụ khi sử dụng https://yhocvn.net/canh-bao-nguy-hiem-khi-su-dung-cac-dung-cu-va-thiet-bi-y-te.html Wed, 01 Jul 2020 14:05:10 +0000 https://yhocvn.net/?p=412706 Cảnh báo nguy hiểm khi sử dụng các dụng cụ và thiết bị y tế Viện ECRI (Emergency Care Research Institute) vừa công bố 10 cảnh báo nguy hiểm cần quan tâm trong năm 2020 khi sử dụng các dụng cụ và thiết bị y tế vì có thể gây mất an toàn và nguy […]

The post Cảnh báo nguy hiểm từ thiết bị dụng cụ khi sử dụng appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Cảnh báo nguy hiểm khi sử dụng các dụng cụ và thiết bị y tế

Viện ECRI (Emergency Care Research Institute) vừa công bố 10 cảnh báo nguy hiểm cần quan tâm trong năm 2020 khi sử dụng các dụng cụ và thiết bị y tế vì có thể gây mất an toàn và nguy hiểm cho bệnh nhân.

Nguy cơ lây nhiễm do sai sót trong quá trình kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở y tế và nha khoa

Sự quan tâm không đầy đủ đến các quy trình khử trùng tại các cơ sở y tế, phòng nha và các cơ sở chăm sóc ngoại trú khác có thể khiến bệnh nhân tiếp xúc với các dụng cụ bị nhiễm khuẩn, hoặc khi cấy ghép. Như đã nhấn mạnh trong các phiên bản trước của danh sách 10 mối nguy hiểm hàng đầu, việc không làm sạch hoặc khử trùng các vật bị nhiễm một cách nghiêm túc và hiệu quả trước khi sử dụng có thể khiến bệnh nhân tiếp xúc với các loại virus gây bệnh.

Mối quan tâm này tồn tại trong tất cả các cơ sở y tế, nơi bệnh nhân có thể tiếp xúc với các vật bị nhiễm khuẩn, đặc biệt là những trường hợp cần cấy ghép vào mô hoặc đưa vào mạch máu. Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ sở y tế đều có bộ phận chuyên trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn (Infection Prevention and Control – IPC). Các cơ sở có thể thiếu quy trình khử trùng thường quy (ví dụ: các phòng khám sản phụ khoa, da liễu), phòng nha và các điểm tương tự không được khử trùng bởi bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn tập trung.

ECRI đã quan sát thấy nhiều hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn không phù hợp liên quan. Mặc dù tỷ lệ ảnh hưởng vẫn chưa được công bố, nhưng tiềm ẩn của vấn đề này là nguy cơ gây mất an toàn cho bệnh nhân.

Các biện pháp an toàn chính bao gồm chỉ định một nhân viên hoặc đơn vị đủ điều kiện để thực hiện IPC và đào tạo phù hợp, thực hiện kiểm tra định kỳ các thiết bị để bàn.

Mặc dù tỷ lệ ảnh hưởng vẫn chưa được công bố, nhưng tiềm ẩn của vấn đề này là làm tăng nguy cơ tiềm tàng gây mất an toàn cho bệnh nhân.

Sử dụng sai bấm ghim phẫu thuật

Máy bấm ghim phẫu thuật là thiết bị phức tạp đòi hỏi kỹ thuật tỉ mỉ để vận hành. Một số loại được sử dụng để ghim (kết dính) mô, trong khi một số khác được thiết kế tính năng cả ghim và cắt. Sử dụng không đúng có thể đem lại hậu quả, bệnh nhân đã bị xuất huyết trong phẫu thuật, tổn thương mô, chảy máu sau phẫu thuật đột ngột, các nguy hại khác.

Mặc dù tỷ lệ biến cố khá thấp so với tần suất sử dụng máy bấm ghim, nhưng các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và chức năng của máy bấm ghim phẫu thuật cũng được báo cáo. Trên thực tế, một phân tích gần đây của FDA đã đưa ra hơn 100.000 sự cố kể từ năm 2011, bao gồm 412 người chết, 11.181 người thươn tật nặng và 98.404 ảnh hưởng chức năng.

Theo ECRI, hậu quả có thể bắt nguồn từ cách sử dụng ghim bấm phẫu thuật, các lỗi sử dụng bao gồm chọn kích thước ghim không chính xác, kẹp trên mô quá dày hoặc quá mỏng, hoặc kẹp vào một dụng cụ khác.

Để tránh các lỗi như vậy, như đã nêu chi tiết trong các khuyến cáo, đòi hỏi phải đào tạo và làm quen với dụng cụ. Cụ thể, khuyến cáo nên thực hành với từng model cụ thể của máy bấm ghim.

Một phân tích gần đây của FDA đã đưa ra hơn 100.000 sự cố kể từ năm 2011, bao gồm 412 người chết, 11.181 người thươn tật nặng và 98.404 ảnh hưởng chức năng.

Rủi ro chạy thận nhân tạo với ống thông tĩnh mạch trung tâm (Central Venous Catheter – CVC)

Gần đây, tại Mỹ đã công bố thúc đẩy tăng cường sử dụng điều trị tại nhà cho bệnh nhân mắc bệnh thận.

Đối với nhiều bệnh nhân, chạy thận nhân tạo tại nhà có thể mang lại nhiều lợi ích lâu dài. Tuy nhiên, những bệnh nhân được chạy thận nhân tạo thông qua CVC, nguy cơ có thể lớn hơn lợi ích.

CVC thường được đặt thông qua tĩnh mạch cổ (hoặc tĩnh mạch trung tâm lớn khác), tạo thành một con đường từ bên ngoài cơ thể đến tim. Do đó, dẫn đến nguy cơ bệnh nhân bị nhiễm trùng, đông máu, và tắc mạch do không khí nghiêm trọng.

Tại cơ sở y tế, nhân viên y tế luôn chăm sóc ống thông đúng cách và giải quyết các nguy cơ kịp thời. Tuy nhiên, khi chăm sóc tại nhà, các thành viên gia đình hoặc những người chăm sóc khác có thể không được trang bị đầy đủ kiến thức để quản lý rủi ro hoặc ứng phó khi xảy ra sự cố do CVC. Khả năng ngày càng nhiều bệnh nhân với CVC để chạy thận nhân tạo tại nhà làm tăng mối lo ngại.

Những bệnh nhân được chạy thận nhân tạo tại nhà thông qua CVC, nguy có thể lớn hơn lợi ích.

Nguy hiểm do sử dụng siêu âm tại giường ngoài tầm kiểm soát

Việc thiếu sự giám sát liên quan đến việc sử dụng siêu âm tại giường (Point-of-Care Ultrasound – POCUS), bao gồm khi nào và phương thức sử dụng, có thể khiến bệnh nhân gặp nguy hiểm và các cơ sở y tế gặp phải rủi ro pháp lý.

POCUS là sử dụng siêu âm bởi bác sĩ lâm sàng tại giường. Nó là một công cụ hiệu quả để chẩn đoán và hướng dẫn các can thiệp trong nhiều tình huống lâm sàng. POCUS thường có tính linh động cao, tương đối rẻ và dễ sử dụng, các tính năng này đã thúc đẩy việc áp dụng nhanh chóng và rộng rãi trong cơ sở y tế.

Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở y tế, các biện pháp để đảm bảo rằng người dùng POCUS được đào tạo, có kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết khi đưa vào sử dụng chưa được thực hiện nghiêm ngặt. Do thiếu sự giám sát yêu cầu này đã làm tăng khả năng bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thiết bị này.

Những lo ngại về an toàn của bệnh nhân bao gồm POCUS không được bảo hành, chẩn đoán sai, sử dụng phương pháp không phù hợp và quá phụ thuộc vào POCUS khi chỉ định.

Các chính sách và thủ tục cần giải quyết, bao gồm đào tạo và chứng nhận người dùng, tài liệu kiểm tra và lưu trữ dữ liệu, xây dựng quy trình kiểm soát tuân thủ quy định.

Tại nhiều cơ sở y tế, các biện pháp để đảm bảo rằng người dùng POCUS được đào tạo, có kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết đã không theo kịp việc đưa vào sử dụng.

Quy trình phẫu thuật robot chưa được thẩm định có thể khiến bệnh nhân gặp nguy hiểm

Hệ thống robot phẫu thuật được sử dụng để hỗ trợ các bác sĩ phẫu thuật ngày càng mở rộng phạm vi – và liên tục phát triển – với các xâm lấn tối thiểu. Mặc dù việc sử dụng robot phẫu thuật theo những cách cải tiến hoặc các quy trình mới có thể giúp thúc đẩy thực hành lâm sàng, nhưng có thể dẫn đến thương tật hoặc biến chứng không mong muốn và có khả năng dẫn đến kết quả xấu lâu dài.

Với cổ tay cơ học, robot phẫu thuật có thể mang lại lợi ích cho bác sĩ phẫu thuật như cải thiện sự khéo léo, cân bằng và giảm run. Tuy nhiên, các hệ thống này cũng có những hạn chế – chúng có thể không cung cấp phản hồi của cảm nhận khi tiếp xúc với mô. Trong một số trường hợp, các biến chứng từ quy trình phẫu thuật robot có thể không xuất hiện trong nhiều năm (năm 2019, FDA đã lưu ý đến khả năng biến chứng muộn liên quan đến việc sử dụng robot phẫu thuật cho một số ca phẫu thuật ung thư.)

Các cơ sở y tế cần các quy trình chặt chẽ để phê duyệt áp dụng các quy trình mới đối với robot phẫu thuật, cũng như các chương trình toàn diện về đào tạo, chứng nhận bác sĩ phẫu thuật đặc biệt và nhân viên phòng mổ đối với các quy trình đó. Về phần mình, các bệnh nhân nên biết rằng phẫu thuật robot vốn dĩ không tốt hơn hoặc xấu hơn các phẫu thuật xâm lấn tối thiểu truyền thống khác.

Các cơ sở y tế cần tuân thủ các quy trình phê duyệt áp dụng kỹ thuật mới đối với robot phẫu thuật, cũng như các chương trình toàn diện về đào tạo, chứng nhận bác sĩ phẫu thuật đặc biệt và nhân viên phòng mổ đối với các quy trình đó.

Quá tải báo động, cảnh báo và thông báo

Các bác sĩ lâm sàng phải phân tán sự tập trung của họ giữa nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân và đáp ứng tín hiệu nhắc từ các thiết bị y tế, hệ thống CNTT trong y tế. Khi số lượng thiết bị tạo báo động, cảnh báo và các thông báo tăng lên, nguy cơ bác sĩ lâm sàng sẽ trở nên quá tải, tiềm ẩn cho một sự cố lâm sàng.

Vấn đề quá tải cảnh báo đã được biết đến. Tuy nhiên, điều quan trọng cần xem xét là gánh nặng cảnh báo – nghĩa là sự kết hợp giữa báo động, cảnh báo và thông báo từ tất cả các nguồn, không chỉ từ một thiết bị y tế.

Thiết bị chăm sóc bệnh nhân báo âm thanh và các tín hiệu đèn. Điện thoại báo các cuộc gọi hoặc tin nhắn. Bệnh án điện tử hiển thị cảnh báo hỗ trợ quyết định lâm sàng. Và hệ thống gọi điều dưỡng thông báo rằng một bệnh nhân cần được chú ý.

Cần có giải pháp để xem xét tất cả các nguồn này nhằm ngăn chặn tình trạng quá tải có thể làm mất tập trung hoặc làm giảm bớt sự tập trung của các bác sĩ lâm sàng, tất cả đều có thể dẫn đến bỏ lỡ cảnh báo và gây hại cho bệnh nhân. Ngoài việc thực hiện các biện pháp để giảm gánh nặng thông báo chung, các cơ sở y tế nên có các hoạt động giúp nhân viên phát triển các kỹ năng tư duy cần thiết để giảm thiểu quá tải nhận thức.

Một cách tiếp cận toàn cầu là cần thiết để ngăn chặn quá tải nhận thức có thể dẫn đến bỏ lỡ cảnh báo và gây hại cho bệnh nhân.

Các thiết bị được kết nối sử dụng tại nhà phải được bảo vệ chống lại các mối đe dọa có thể làm gián đoạn dữ liệu, thay đổi hoặc làm giảm hiệu suất của thiết bị, hoặc lộ thông tin sức khỏe được bảo mật.

Lỗi dùng thuốc do khác biệt thời gian trong bệnh án điện tử

Dùng thuốc không đủ liều hoặc trễ do có sự khác biệt giữa thời gian dùng thuốc trên toa của người kê đơn và thời gian được mặc định tự động từ danh sách do điều dưỡng xem. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh của bệnh nhân và thuốc được kê đơn, những lỗi này có thể dẫn đến hậu quả lâm sàng đáng kể. Sự kết hợp giữa các vấn đề về giao diện mặc định và sử dụng trong hồ sơ bệnh án điện tử có thể dẫn đến sự khác biệt đó. Hãy xem xét tình huống sau đây:

Vào cuối buổi sáng, bác sĩ nhập đơn thuốc mỗi ngày một lần và chỉ định bệnh nhân sẽ được tiêm liều đầu tiên vào sáng hôm đó. Tuy nhiên, thời gian mặc định được lập trình vào EHR cho các loại thuốc mỗi ngày một lần là 8:00 sáng. Vì đơn thuốc được kê sau thời gian trên, nên thuốc cho bệnh nhân đó sẽ không xuất hiện trong danh sách thực hiện của điều dưỡng cho đến sáng hôm sau, trừ khi người kê đơn biết về thời gian mặc định này để thay đổi cụ thể thời gian trong đơn thuốc.

Lỗi thời gian dùng có thể ít hơn nếu hệ thống nhập đơn thuốc trên bệnh án điện tử hiển thị rõ ràng thời gian cho thuốc theo lịch, cho phép người kê đơn dễ dàng sửa đổi thời gian đó, bao gồm tùy chọn “ngay bây giờ” cho các loại thuốc cần được sử dụng sớm.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân mắc bệnh và thuốc được kê đơn, lỗi thời gian dùng thuốc có thể dẫn đến hậu quả lâm sàng đáng kể.

Thiếu thông tin về thiết bị cấy ghép trong cơ thể bệnh nhân có thể gây nguy hiểm khi chụp MRI

Bệnh nhân trước khi chụp cộng hưởng từ (MRI) phải được kiểm tra các thiết bị cấy ghép để tránh gây hại. Một số thiết bị cấy ghép có thể bị nóng, di chuyển hoặc trục trặc khi tiếp xúc với từ trường của hệ thống MRI. Do đó, nhân viên MRI phải xác định và tuân theo mọi chống chỉ định hoặc điều kiện an toàn của nhà sản xuất thiết bị cấy ghép.

Thật không may, thông tin về thiết bị cấy ghép của bệnh nhân thường nằm rải rác trong các hồ sơ. Không có một vị trí duy nhất trong hồ sơ sức khoẻ điện tử (EHR) để lưu trữ thông tin thiết bị cấy ghép, các cơ sở y tế không có phương tiện để xác định loại và vị trí của thiết bị cấy ghép. Ngay cả khi khám sàng lọc, có thể không đáng tin cậy, vì bệnh nhân có thể không nhớ chi tiết về thiết bị cấy ghép hoặc có thể không ở trong tình trạng tốt để trả lời.

Có thể gây hại trực tiếp cho bệnh nhân nếu việc chụp không đúng cách được tiến hành với thiết bị cấy ghép không rõ ràng. Ngoài ra, việc điều trị bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng nếu việc chụp cần phải hoãn lại trong khi các cơ sở y tế xác định thông tin thiết bị cấy ghép.

Các cơ sở y tế nên làm việc với nhà cung cấp EHR để tạo danh sách thiết bị cấy ghép được lưu trữ trong hồ sơ bệnh nhân. Tương tự như danh sách các dị ứng của bệnh nhân, danh sách thiết bị cấy ghép tập hợp tất cả thông tin liên quan tại một vị trí dễ truy cập

Có thể gây hại trực tiếp cho bệnh nhân nếu việc chụp không đúng cách được tiến hành với sự có mặt của thiết bị cấy ghép không xác định.

Ốc vít và bu lông lỏng lẻo có thể dẫn đến hỏng thiết bị và thương tích nặng

Các ốc vít, bu lông giữ các bộ phận của thiết bị y tế có thể bị lỏng theo thời gian khi sử dụng thường xuyên. Việc không sửa chữa hoặc thay thế các ốc vít bị lỏng hoặc mất, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: thiết bị có thể bị lật, rơi, sập hoặc dịch chuyển trong quá trình sử dụng – bất kỳ trường hợp nào cũng có thể dẫn đến bệnh nhân, nhân viên y tế bị thương hoặc tử vong. Ngoài ra, hoạt động tại cơ sở y tế có thể bị cản trở, ảnh hưởng đến chăm sóc bệnh nhân và các thiết bị có thể hư hại.

Trong hai năm qua, gần 20 báo cáo liên quan đến nhiều loại thiết bị y tế với ốc vít lỏng lẻo. Nhiều loại, từ xe đẩy trẻ em (khiến trẻ sơ sinh gặp nguy hiểm) đến các hệ thống chụp động mạch đồ sộ (có thể gây nguy hiểm cho bất kỳ ai bị rơi phải).

Báo cáo này làm rõ sự khiếm khuyết của các thành phần đơn giản có thể để lại hậu quả nghiêm trọng. Như vậy, nó như một lời nhắc nhở rằng việc kiểm tra thiết bị là một yêu cầu quan trọng đối với an toàn người bệnh. Các kỹ sư nên kiểm tra tình trạng của tất cả các ốc vít cơ học trong quá trình kiểm tra, ngay cả trường hợp không được nêu trong hướng dẫn bào trì.

Về phần mình, nhân viên y tế nên cảnh báo cho người có chức năng về bất kỳ chiếc ốc vít lỏng lẻo hoặc thiếu hụt nào, chuyển động của thiết bị không đều, hoặc tiếng ồn bất thường phát ra từ một thiết bị.

Sự ảnh hưởng của thiết bị xe đẩy trẻ em (khiến trẻ sơ sinh gặp nguy hiểm) đến các hệ thống chụp động mạch đồ sộ (có thể gây ra hại cho bất kỳ ai bị rơi phải).

Rủi ro an ninh mạng trong kết nối chăm sóc sức khỏe tại nhà

Các công nghệ theo dõi bệnh nhân từ xa đang ngày càng được sử dụng để theo dõi tại nhà nhằm giúp các bác sĩ lâm sàng xác định tình trạng bệnh nhân xấu đi trước khi họ phải nhập viện. Khi mạng kết nối công nghệ y tế này được triển khai tại nhà, các chính sách về an ninh mạng nhằm giải quyết các thách thức cũng phải được đưa ra.

Giống như bất kỳ thiết bị y tế nào được kết nối mạng, các thiết bị được kết nối sử dụng tại nhà phải được bảo vệ chống lại các mối đe dọa có thể làm gián đoạn dữ liệu, thay đổi hoặc làm giảm hiệu suất của thiết bị, hoặc lộ thông tin sức khỏe được bảo mật. Ví dụ, một vấn đề an ninh mạng làm gián đoạn việc chuyển dữ liệu đến cơ sở y tế có thể dẫn đến chẩn đoán sai hoặc chậm trễ trong việc chăm sóc.

Những thách thức bao gồm: việc triển khai có thể dựa vào mạng gia đình bệnh nhân, mà nhà cung cấp mạng không kiểm soát được; khó tiếp cận thiết bị, điều này có thể làm phức tạp việc khắc phục sự cố và cài đặt các bản cập nhật; và khó duy trì sự tuân thủ vận hành của bệnh nhân, đặc biệt nếu bệnh nhân thiếu thành thạo sử dụng thiết bị hoặc có những lo ngại không đáng có về rủi ro an ninh mạng.

Các khuyến cáo bao gồm đánh giá bảo mật hệ thống trong quá trình mua sắm thiết bị và giải quyết các vấn đề về bảo mật trong quá trình cài đặt, cả tại nhà bệnh nhân và nhà mạng. Mục tiêu không chỉ là làm cho hệ thống giám sát hoạt động, mà là để nó hoạt động an toàn.

Yhocvn.net (Theo Viện ECRI (Emergency Care Research Institute))

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ 10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020

+ Hệ thống 911: Giải pháp tuyệt vời, chính xác

+ Xu hướng bệnh viện của tương lai sau cuộc cách mạng 4.0 và đại dịch

The post Cảnh báo nguy hiểm từ thiết bị dụng cụ khi sử dụng appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Plenvu, thuốc bột pha làm sạch đại trực tràng chuẩn bị nội soi https://yhocvn.net/plenvu-thuoc-bot-pha-lam-sach-dai-truc-trang-chuan-bi-noi-soi.html Tue, 30 Jun 2020 02:39:55 +0000 https://yhocvn.net/?p=412701 Gói thuốc bột Plenvu cho dung dịch uống Thành phần định tính và định lượng Các thành phần của Plenvu được chứa trong ba gói riêng biệt. Liều đầu tiên được cung cấp trong một gói và liều thứ hai được cung cấp trong hai gói A và B. Liều 1 gói chứa các hoạt […]

The post Plenvu, thuốc bột pha làm sạch đại trực tràng chuẩn bị nội soi appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Gói thuốc bột Plenvu cho dung dịch uống

Thành phần định tính và định lượng

Các thành phần của Plenvu được chứa trong ba gói riêng biệt. Liều đầu tiên được cung cấp trong một gói và liều thứ hai được cung cấp trong hai gói A và B.

Liều 1 gói chứa các hoạt chất sau:

Macrogol 3350                                   100g

Natri sunfat khan                             9 g

Natri clorua                                         2 g

Kali clorua                                            1 g

Nồng độ của các ion điện giải khi liều đầu tiên được tạo thành tối đa 500 ml dung dịch như sau:

Natri                                                      160,9 mmol / 500 ml

Sulfat                                                    63,4 mmol / 500 ml                         

Clorua                                                   47,6 mmol / 500 ml

Kali                                                         13,3 mmol / 500 ml

Liều 1 cũng chứa 0,79 g sucralose (E955).

Liều 2 (Gói A và B) chứa các hoạt chất sau:

Gói A :

Macrogol 3350                                   40 g

Natri clorua                                         3,2 g

Kali clorua                                            1,2 g

Gói B :

Natri ascorbate                                 48,11 g

Axit ascoricic                                      7,54 g

Nồng độ của các ion điện giải khi liều thứ hai (Gói A và B) được tạo thành tối đa 500 ml dung dịch như sau:

Natri                                                      297,6 mmol / 500 ml

Chất hấp thu                                      285,7 mmol / 500 ml

Clorua                                                   70,9 mmol / 500 ml

Kali                                                         16,1 mmol / 500 ml

Tá dược có tác dụng đã biết

Liều 2 (Gói A) cũng chứa 0,88 g aspartame (E951).

Để biết danh sách đầy đủ các tá dược, xem phần 6.1.

Dạng dược phẩm

plenvu thuốc bột pha uống làm sạch đại tràng, ruột non

Bột pha dung dịch uống.

Bột màu trắng đến vàng.

Đặc điểm lâm sàng

4.1 Chỉ định điều trị

Plenvu được chỉ định ở người lớn để làm sạch ruột trước bất kỳ thủ tục nào cần phải rửa ruột sạch.

4.2 Vị trí và phương pháp quản trị

Vị trí

Người lớn và người già

Một đợt uống bao gồm hai liều Plenvu 500 ml không giống hệt nhau. Ít nhất 500 ml chất lỏng trong suốt bổ sung, có thể bao gồm nước, súp trong, nước ép trái cây không có bột giấy, nước ngọt, trà và / hoặc cà phê không có sữa phải được uống với mỗi liều.

Quá trình điều trị này có thể được thực hiện theo lịch trình dùng thuốc hai ngày hoặc một ngày theo quy định dưới đây:

Lịch dùng thuốc trong hai ngày:

uống thuốc lam sạch ruột với liều cho 2 ngày

• Liều đầu tiên được thực hiện vào buổi tối trước khi làm thủ thuật lâm sàng (khoảng 18,00H) và liều thứ hai vào sáng sớm trong ngày của quy trình lâm sàng (khoảng 06.00H)

Lịch trình dùng thuốc trong một ngày:

uống thuốc làm sạch ruột với liều 1 ngày

• Lịch trình chỉ dùng thuốc buổi sáng với cả hai liều được thực hiện vào buổi sáng trong ngày của quy trình lâm sàng (liều đầu tiên được thực hiện vào khoảng 05.00H); hai liều nên cách nhau tối thiểu 1 giờ, hoặc

• Ngày trước lịch dùng thuốc với cả hai liều được thực hiện vào buổi tối trước khi làm thủ thuật lâm sàng (liều đầu tiên được thực hiện vào khoảng 18,00H); hai liều nên cách nhau tối thiểu 1 giờ.

Với bệnh nhân nhi

Sự an toàn và hiệu quả ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập. Do đó, Plenvu không được khuyến khích sử dụng trong dân số này.

Bệnh nhân suy thận

Không cần điều chỉnh liều đặc biệt được coi là cần thiết ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình được đưa vào các nghiên cứu lâm sàng.

Bệnh nhân suy gan

Không cần điều chỉnh liều đặc biệt được coi là cần thiết ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân có xét nghiệm chức năng gan tăng cao đã được đưa vào các nghiên cứu lâm sàng.

Cách dùng thuốc rửa ruột chuẩn bị trước nội soi

Dùng đường uống.

Liều 1: Nội dung của gói đơn cho Liều 1 nên được pha tối đa 500 ml với nước. Dung dịch hoàn nguyên nên được thực hiện trong khoảng thời gian 30 phút, sau đó là 500 ml chất lỏng trong suốt trong 30 phút tiếp theo.

Liều 2: Nội dung của hai gói (gói A và B cùng nhau) cho Liều 2 nên được làm tối đa 500 ml bằng nước. Dung dịch hoàn nguyên nên được thực hiện trong khoảng thời gian 30 phút, sau đó là 500 ml chất lỏng trong suốt trong 30 phút tiếp theo.

Ngoài các chất lỏng được sử dụng như một phần của quá trình điều trị, có thể uống bất kỳ lượng chất lỏng trong suốt bổ sung nào (ví dụ như nước, súp trong, nước trái cây không có bột giấy, nước ngọt, trà và / hoặc cà phê không có sữa). Lưu ý: Tránh bất kỳ chất lỏng có màu đỏ hoặc tím (ví dụ nước ép blackcurrant) vì điều này có thể làm ố ruột.

Tiêu thụ tất cả các chất lỏng nên được dừng lại ít nhất;

• hai giờ trước khi làm thủ thuật lâm sàng khi được gây mê toàn thân, hoặc

• một giờ trước khi tiến hành lâm sàng mà không cần gây mê toàn thân.

Thông tin về bữa ăn

Không nên dùng thức ăn đặc từ khi bắt đầu quá trình điều trị cho đến sau khi làm thủ thuật lâm sàng.

Bệnh nhân nên được khuyên nên cho phép có đủ thời gian sau khi đi tiêu đã giảm xuống để đi đến đơn vị lâm sàng.

Lịch chia liều hai ngày và ngày trước khi lên lịch:

Một ngày trước khi làm thủ thuật lâm sàng, bệnh nhân có thể có một bữa sáng nhẹ và sau đó là bữa trưa nhẹ phải hoàn thành ít nhất 3 giờ trước khi bắt đầu dùng liều đầu tiên.

Lịch trình chỉ dùng buổi sáng:

Một ngày trước khi làm thủ thuật lâm sàng, bệnh nhân có thể có một bữa ăn sáng nhẹ sau bữa trưa nhẹ, và súp trong và / hoặc sữa chua nguyên chất cho bữa tối, cần được hoàn thành khoảng 20.00H.

Để được hướng dẫn về phục hồi sản phẩm thuốc trước khi dùng, xem phần 6.6.

4.3 Chống chỉ định

Không sử dụng ở những bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ:

• quá mẫn cảm với các hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào được liệt kê trong phần 6.1

• tắc nghẽn đường tiêu hóa hoặc thủng

• hồi tràng

• rối loạn làm rỗng dạ dày (ví dụ như dạ dày, ứ đọng dạ dày, v.v.)

• phenylketon niệu (do sự hiện diện của aspartame)

• thiếu hụt glucose-6-phosphate dehydrogenase (do sự hiện diện của ascorbate)

• megacolon độc hại

4.4 Cảnh báo và biện pháp phòng ngừa đặc biệt khi sử dụng

Hàm lượng chất lỏng của Plenvu khi được pha lại với nước không thay thế lượng chất lỏng thông thường và lượng chất lỏng đầy đủ phải được duy trì.

Cũng như các sản phẩm chứa macrogol khác, các phản ứng dị ứng bao gồm phát ban, nổi mề đay, ngứa, phù mạch và sốc phản vệ là một khả năng.

Thận trọng khi sử dụng Plenvu cho bệnh nhân yếu hoặc suy nhược.

Plenvu cũng nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân bị:

• phản xạ bịt miệng bị suy yếu, với khả năng hồi sinh hoặc khát vọng, hoặc với mức độ ý thức giảm dần. Những bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ trong khi dùng, đặc biệt nếu được dùng qua đường mũi

• suy thận nặng (độ thanh thải creatinin dưới 30 ml / phút / 1,73 m 2 )

• suy tim (độ III hoặc IV của NYHA)

• những người có nguy cơ rối loạn nhịp tim, ví dụ những người có hoặc đang điều trị bệnh tim mạch, bệnh tuyến giáp hoặc mất cân bằng điện giải

• mất nước

• bệnh viêm ruột cấp tính nặng.

Ở những bệnh nhân mong manh suy nhược, bệnh nhân có sức khỏe kém, những người bị suy thận nghiêm trọng về mặt lâm sàng, rối loạn nhịp tim và những người có nguy cơ mất cân bằng điện giải, bác sĩ nên xem xét thực hiện điện giải cơ bản và sau điều trị, xét nghiệm chức năng thận và ECG khi thích hợp. Bất kỳ nghi ngờ mất nước nên được sửa chữa trước khi sử dụng Plenvu.

Đã có những báo cáo hiếm hoi về rối loạn nhịp tim nghiêm trọng bao gồm rung tâm nhĩ liên quan đến việc sử dụng thuốc nhuận tràng thẩm thấu ion để chuẩn bị ruột. Chúng xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim tiềm ẩn và rối loạn điện giải.

Nếu bệnh nhân xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào cho thấy rối loạn nhịp tim hoặc dịch chuyển chất lỏng / chất điện giải trong hoặc sau khi điều trị (ví dụ phù, khó thở, tăng mệt mỏi, suy tim), nên đo điện giải trong huyết tương, theo dõi ECG và bất kỳ trường hợp bất thường nào được điều trị thích hợp.

Nếu bệnh nhân bị đầy hơi nghiêm trọng, trướng bụng hoặc đau bụng, nên dùng thuốc chậm hoặc tạm thời cho đến khi các triệu chứng giảm bớt.

Plenvu chứa 458,5 mmol (10,5 g) natri mỗi đợt điều trị. Điều này nên được xem xét cho bệnh nhân về chế độ ăn có kiểm soát natri. Chỉ một tỷ lệ natri được hấp thụ, xem phần 5.2.

Plenvu chứa 29,4 mmol (1,1 g) kali mỗi đợt điều trị. Điều này nên được xem xét bởi những bệnh nhân bị giảm chức năng thận hoặc bệnh nhân có chế độ ăn kiêng kiểm soát kali.

4.5 Tương tác với các sản phẩm thuốc khác và các hình thức tương tác khác

Các sản phẩm thuốc uống bằng đường uống (ví dụ như thuốc tránh thai đường uống) trong vòng một giờ kể từ khi bắt đầu rửa đại tràng bằng Plenvu có thể được rửa sạch từ đường tiêu hóa không được hấp thu. Hiệu quả điều trị của thuốc có chỉ số điều trị hẹp hoặc thời gian bán hủy ngắn có thể bị ảnh hưởng đặc biệt.

4.6 Khả năng sinh sản, mang thai và cho con bú

Thai kỳ

Không có hoặc giới hạn số lượng dữ liệu (dưới 300 kết quả mang thai) từ việc sử dụng các hoạt chất Plenvu ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy tác động có hại gián tiếp liên quan đến độc tính sinh sản (xem phần 5.3). Trên lâm sàng, không có tác dụng trong thai kỳ, vì phơi nhiễm toàn thân với macrogol 3350 là không đáng kể.

Là một biện pháp phòng ngừa, tốt nhất là tránh sử dụng Plenvu trong khi mang thai.

Cho con bú

Không biết liệu các hoạt chất / chất chuyển hóa Plenvu được bài tiết trong sữa mẹ. Không đủ thông tin về sự bài tiết các hoạt chất / chất chuyển hóa Plenvu trong sữa mẹ.

Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ sơ sinh / trẻ sơ sinh.

Một quyết định phải được đưa ra là có nên ngừng cho con bú hay kiêng điều trị bằng Plenvu có tính đến lợi ích của việc cho con bú đối với đứa trẻ và lợi ích của việc trị liệu cho người phụ nữ.

Khả năng sinh sản

Không có dữ liệu về ảnh hưởng của Plenvu đến khả năng sinh sản ở người. Không có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản trong các nghiên cứu ở chuột đực và chuột cái (xem phần 5.3).

4.7 Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc

Plenvu không ảnh hưởng đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc.

4.8 Tác dụng không mong muốn

Tiêu chảy là kết quả mong đợi của việc chuẩn bị ruột. Do tính chất của can thiệp, tác dụng không mong muốn xảy ra ở phần lớn bệnh nhân trong quá trình chuẩn bị ruột. Trong khi những khác nhau giữa các chế phẩm, buồn nôn, nôn, đầy hơi, đau bụng, kích thích hậu môn và rối loạn giấc ngủ thường xảy ra ở bệnh nhân trải qua chuẩn bị ruột. Mất nước có thể xảy ra do tiêu chảy và / hoặc nôn.

Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng có sẵn trong một dân số hơn một nghìn đối tượng được điều trị bằng Plenvu, trong đó dữ liệu hiệu quả không mong muốn được tích cực khơi gợi.

Bảng dưới đây là danh sách các tác dụng phụ khẩn cấp điều trị được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng của Plenvu.

Rối loạn tiêu hóa

Nôn, buồn nôn

Béo bụng, đau hậu môn trực tràng, đau bụng, đau bụng trên, đau bụng dưới

Rối loạn hệ thống miễn dịch

Quá mẫn thuốc

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

Mất nước

Rối loạn hệ thần kinh

Nhức đầu, đau nửa đầu, buồn ngủ

Rối loạn chung và điều kiện trang web quản trị

Khát nước *, Mệt mỏi, Suy nhược, ớn lạnh **, Đau, Aches

Rối loạn tim

Đánh trống ngực, nhịp tim nhanh xoang

Rối loạn mạch máu

Tăng huyết áp thoáng qua, Nóng bừng

Điều tra

Tăng men gan thoáng qua ***

Tăng kali máu, Tăng calci máu, Hạ đường huyết, Hạ kali máu, Giảm bicarbonate, Khoảng cách anion tăng / giảm, Trạng thái Hyperosmole

* Khát bao gồm các Điều khoản ưu tiên; Khát nước, Khô miệng và Khô họng

** ớn lạnh bao gồm các Điều khoản ưu tiên; Ớn lạnh, cảm thấy nóng và cảm thấy lạnh

*** Tăng men gan thoáng qua bao gồm các Điều khoản ưu tiên; ALT tăng, AST tăng, GGT tăng, men gan tăng, Transaminase tăng

# Không có sự kiện bất lợi nào với tần suất rất phổ biến đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng.

Báo cáo về các phản ứng bất lợi nghi ngờ

4.9 Quá liều

Trong trường hợp quá liều tình cờ, khi tiêu chảy nghiêm trọng, có thể cần thay thế chất lỏng và điều chỉnh điện giải.

5. Tính chất dược lý

5.1 Tính chất dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc nhuận tràng có tác dụng thẩm thấu.

Mã ATC: A06A D65

Việc uống các dung dịch điện giải dựa trên macrogol gây ra tiêu chảy vừa phải và dẫn đến việc làm rỗng đại tràng nhanh chóng.

Macrogol 3350, natri sulfat và axit ascorbic liều cao gây tác dụng thẩm thấu trong ruột, gây ra tác dụng nhuận tràng.

Macrogol 3350 làm tăng thể tích phân, kích hoạt nhu động ruột kết thông qua con đường thần kinh cơ.

Hậu quả sinh lý là sự vận chuyển đại tràng đẩy của phân mềm.

Các chất điện giải có trong công thức và lượng chất lỏng trong suốt bổ sung được bao gồm để ngăn ngừa sự thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng của natri, kali hoặc nước, và do đó làm giảm nguy cơ mất nước.

5.2 Tính chất dược động học

Phần lớn (> 99,7%) của macrogol 3350 không được hấp thu qua đường tiêu hóa và được bài tiết qua phân. Văn học báo cáo rằng bất kỳ macrogol 3350 được hấp thụ, được bài tiết qua nước tiểu.

Hấp thụ ascorbate xảy ra bởi một quá trình vận chuyển tích cực phụ thuộc natri với công suất hạn chế; một liều uống duy nhất trên 2 g được báo cáo là hấp thu jejunal bão hòa. Chất ascorbate không được hấp thụ vẫn còn trong lòng ruột, ước tính khoảng 96% (48 g) thành phần ascorbate được bài tiết qua phân. Ascorbate là thành phần bình thường của máu, tuy nhiên khi nồng độ trong huyết tương vượt quá khoảng 15μg / mL, axit ascorbic dư thừa sẽ được loại bỏ, chủ yếu là không thay đổi, trong nước tiểu.

Phần lớn sulfate đường uống không được hấp thụ, và bằng cách thiết lập một gradient điện hóa, ngăn chặn sự hấp thụ các ion natri đi kèm. Một lượng nhỏ các ion sunfat được hấp thụ trong toàn bộ đường tiêu hóa, làm tăng thêm lượng sunfat vô cơ thiết yếu được hình thành từ sự phân hủy của axit amin chứa lưu huỳnh. Phần lớn sunfat vô cơ được hấp thụ được loại bỏ không thay đổi bằng cách lọc cầu thận và chịu sự tái hấp thu ở ống bão hòa.

Các chế phẩm ruột có tác dụng thẩm thấu dẫn đến tiêu chảy nhiều, dẫn đến việc loại bỏ hầu hết các sản phẩm qua phân. Chúng cũng có thể dẫn đến những thay đổi trong cân bằng điện giải trong cơ thể, thường là sự cạn kiệt natri và kali. Natri và kali bổ sung có trong công thức Plenvu giúp cân bằng các chất điện giải. Trong khi một số sự hấp thụ natri diễn ra, phần lớn natri dự kiến ​​sẽ được bài tiết qua phân dưới dạng muối natri của sulfate và ascorbate, các hoạt chất thẩm thấu có trong chế phẩm Plenvu.

Không có nghiên cứu dược động học được thực hiện ở bệnh nhân suy thận hoặc gan.

5.3 Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng

Các nghiên cứu tiền lâm sàng cung cấp bằng chứng cho thấy macrogol 3350, axit ascorbic và natri sulfat không có tiềm năng độc tính hệ thống đáng kể, dựa trên các nghiên cứu thông thường về dược lý, độc tính liều lặp lại, nhiễm độc gen và gây ung thư.

Không có nghiên cứu đã được thực hiện về độc tính gen, gây ung thư hoặc ảnh hưởng độc hại đến sinh sản với sản phẩm này.

Trong các nghiên cứu độc tính sinh sản với Movicol (một sản phẩm macrogol 3350), không có tác dụng gây độc phôi hoặc gây quái thai trực tiếp ở chuột ngay cả ở mức độ độc hại của mẹ cao gấp 20 lần liều Plenvu được khuyến cáo ở người. Các tác động phôi thai gián tiếp, bao gồm giảm trọng lượng của thai nhi và nhau thai, giảm khả năng sống của thai nhi, tăng phản ứng chân tay và chân và phá thai, đã được ghi nhận ở thỏ với liều độc hại tối đa của mẹ giống như liều Plenvu được khuyến cáo ở người. Thỏ là một loài thử nghiệm động vật nhạy cảm với tác động của các chất hoạt động GI và các nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện phóng đại với khối lượng liều cao được sử dụng, không liên quan đến lâm sàng. Những phát hiện có thể là hậu quả của một tác động gián tiếp của Movicol liên quan đến tình trạng bà mẹ nghèo do kết quả của phản ứng dược lực học quá mức ở thỏ. Không có dấu hiệu của một tác dụng gây quái thai.

6. Chi tiết dược phẩm

6.1 Danh sách tá dược

Sucralose (E955)

Aspartame (E951)

Axit citric đóng gói có chứa axit citric (E330) và maltodextrin (E1400)

Hương vị xoài có chứa glycerol (E422), các chế phẩm hương liệu, keo keo (E414), maltodextrin (E1400) và các chất tạo hương vị giống hệt tự nhiên

Hương trái cây có chứa các chế phẩm hương liệu, keo keo (E414), maltodextrin (E1400) và các chất tạo hương vị giống hệt tự nhiên

6.2 Tính không tương thích

Không áp dụng

6.3 Thời hạn sử dụng

Gói: 2 năm

Giải pháp hoàn nguyên: 24 giờ

6.4 Các biện pháp phòng ngừa đặc biệt cho việc lưu trữ

Gói: Không lưu trữ trên 25 ° C.

Các giải pháp hoàn nguyên: Giữ các dung dịch đã chuẩn bị dưới 25 ° C và uống trong vòng 24 giờ. Các giải pháp có thể được lưu trữ trong tủ lạnh. Các giải pháp phải được bảo hiểm.

6.5 Bản chất và nội dung

Mỗi gói bao gồm một lớp gỗ với các vật liệu xây dựng sau: polyetylen terephthalate (PET), polyetylen, nhôm và nhựa đùn.

Liều 1 chứa 115,96 g bột, Liều 2 Gói A chứa 46,26 g bột và Liều 2 Gói B chứa 55,65 g bột.

Ba gói được chứa trong một lớp phủ thứ cấp rõ ràng trong một thùng các tông, và bao gồm một điều trị duy nhất của Plenvu. Các thùng các tông cũng chứa tờ thông tin bệnh nhân.

Plenvu có sẵn trong các gói chứa 1 điều trị và trong các gói chứa 40, 80, 160 và 320 phương pháp điều trị. Không phải tất cả các kích cỡ gói có thể được bán trên thị trường.

6.6 Các biện pháp phòng ngừa đặc biệt để xử lý và xử lý khác

Tái tạo Plenvu trong nước có thể mất khoảng 8 phút và được thực hiện tốt nhất bằng cách thêm bột vào thùng trộn trước sau đó là nước. Bệnh nhân nên đợi cho đến khi tất cả bột tan hết trước khi uống dung dịch.

Sau khi phục hồi trong nước, tiêu thụ Plenvu có thể bắt đầu ngay lập tức hoặc nếu được ưu tiên, nó có thể được làm mát trước khi sử dụng.

Bất kỳ sản phẩm thuốc hoặc chất thải không sử dụng phải được xử lý theo yêu cầu của địa phương

7. Chủ ủy quyền tiếp thị

Công ty TNHH Dược phẩm Norgine

The post Plenvu, thuốc bột pha làm sạch đại trực tràng chuẩn bị nội soi appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020 https://yhocvn.net/10-benh-vien-lon-nhat-the-gioi-nam-2020.html Mon, 29 Jun 2020 16:08:40 +0000 https://yhocvn.net/?p=412684 10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020 Tạp chí “Healthcare Global” vừa công bố danh sách 10 bệnh viện lớn nhất thế giới trong năm 2020 (4/2020). 1. Bệnh viện đa khoa Vienna (tiếng Đức: Allgemeines Krankenhaus der Stadt Wien) Bệnh viện đa khoa Vienna (tiếng Đức: Allgemeines Krankenhaus der Stadt Wien), thường […]

The post 10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020 appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020

Tạp chí “Healthcare Global” vừa công bố danh sách 10 bệnh viện lớn nhất thế giới trong năm 2020 (4/2020).

1. Bệnh viện đa khoa Vienna (tiếng Đức: Allgemeines Krankenhaus der Stadt Wien)

Bệnh viện đa khoa Vienna (tiếng Đức: Allgemeines Krankenhaus der Stadt Wien), thường được gọi tắt là AKH, là bệnh viện lớn, bệnh viện đa khoa của thành phố Vienna, Áo. Đây cũng là bệnh viện đại học của Đại học Y khoa Vienna.

Nguồn gốc của bệnh viện bắt nguồn từ năm 1686, khi Tiến sĩ Johann Franckh đã quyên tặng tài sản để xây dựng bệnh viện sau khi kết thúc chiến tranh tại thành phố Vienna. Việc xây dựng AKH mới bắt đầu vào mùa hè năm 1964; tổng chi phí xây dựng xấp xỉ 4,5 tỷ euro so với dự kiến ngân sách ban đầu là 72,67 triệu euro.

Hiện tại, bệnh viện AKH có khoảng 9.000 người đang làm việc. Trong đó, có khoảng 1.600 bác sĩ và 4.500 nhân viên y tế là điều dưỡng và kỹ thuật viên phục hồi chức năng. Hàng năm, bệnh viện AKH có gần 95.000 bệnh nhân nội trú, và 500.000 lượt đến khám ngoại trú tại 384 phòng khám của bệnh viện. Bệnh viện có hơn 11.000 sinh viên y khoa thuộc Đại học Y khoa Vienna.

Số nhân viên: 9.000

Số giường bệnh: 2.189

2. Bệnh viện đa khoa Singapore

Bệnh viện đa khoa Singapore là bệnh viện lớn nhất và lâu đời nhất của Singapore. Bệnh viện được thành lập vào năm 1821, đây là bệnh viện đa khoa đầu tiên đặt tại khu vực dành cho quân đội Anh gần sông Singapore. Sau đó, nó chuyển đến khu Pearl Banks và rồi đến quận Kandang Kerbau, trước khi cố định tại Sepoy Lines dọc theo đường Outram vào năm 1882.

Vào ngày 31 tháng 03 năm 2000, sau khi Bộ Y tế Singapore tổ chức lại các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thuộc khu vực công, Bệnh viện Đa khoa Singapore thuộc sự quản lý của tổ chức Dịch vụ y tế Singapore, còn gọi là SingHealth.

Số nhân viên: 10.000

Số giường bệnh: 1.785

3. Bệnh viện Đại học Oxford – Anh

Bệnh viện Đại học Oxford là một bệnh viện lớn giảng dạy của Anh và thuộc Tập đoàn Shelord. Đây là một trong những bệnh viện giảng dạy lớn nhất của nước Anh và là một trong những bệnh viện lớn nhất ở Châu Âu.

NHS là gì? Đó là viết tắt của National Health Service, là một tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ y tế do chính phủ tài trợ. Mọi người sống ở Anh có thể sử dụng dịch vụ này mà không phải thanh toán chi phí dịch vụ. NHS được Bộ trưởng Bộ Y tế Aneurin Bevan chính thức khai trương vào ngày 5/7/1948, tại Bệnh viện Park (nay là Bệnh viện Đa khoa Trafford) ở Manchester. “NHS foundation trusts” (Tổ chức Uỷ thác Dịch vụ y tế quốc gia) được hình thành để thay thế quyền điều hành của chính quyền trung ương bằng các tổ chức cộng đồng địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương.

Đây là tổ chức công và chịu trách nhiệm trước người dân địa phương, người bệnh, nhân viên y tế thông qua Hội đồng thống đốc (Council of Governors), hội đồng này được bổ nhiệm từ các tổ chức có liên quan như Hội đồng địa phương hoặc được bầu bởi các thành viên của Tổ chức Ủy thác.

Bệnh viện Đại học Oxford chuyển sang trực thuộc Foundation Trust vào tháng 10 năm 2015. Bệnh viện cung cấp hàng loạt các dịch vụ lâm sàng, dịch vụ chuyên khoa (bao gồm tim mạch, ung thư, phục hồi chức năng cơ xương và thần kinh), giáo dục y khoa, đào tạo và nghiên cứu.

Số nhân viên: 12.000

Số giường bệnh: 1.118

4. Bệnh viện Rigshospitalet Đan mạch

Rigshospitalet (có nghĩa là Bệnh viện Quốc gia) là một trong những bệnh viện lớn nhất và chuyên khoa sâu của Đan Mạch. Bệnh viện là một tòa nhà cao 16 tầng, là một trong những cấu trúc cao nhất ở khu vực trung tâm của thành phố Copenhagen.

Bệnh viện thành lập vào năm 1757 và được đặt tại Bredgade, hiện nay là tòa nhà Bảo tàng Nghệ thuật và Thiết kế. Năm 1910, bệnh viện đã được bàn giao lại cho nhà nước và chuyển đến vị trí hiện tại và đổi tên thành Rigshospitalet và là bệnh viện phục vụ cho tất cả công dân của Vương quốc Đan Mạch.

Số nhân viên: 12.000

Số giường bệnh: 1.118

5. Bệnh viện Charité – Đức

Charité, Berlin là một trong những bệnh viện đại học lớn nhất Châu Âu. Với nhiều Trung tâm Nghiên cứu Hợp tác (Collaborative Research Centers- CRC) của Deutsche Forschungsgemeinschaft, đây là một trong những bệnh viện nghiên cứu và chăm sóc chuyên sâu lớn nhất của Đức. Từ năm 2012 đến 2019, tổ chức Focus xếp hạng là một bệnh viện tốt nhất trong số hơn 1.000 bệnh viện ở Đức.

Bệnh viện được thành lập ở phía bắc của các bức tường thành phố Berlin vào năm 1710 với dự đoán về sự bùng phát của bệnh dịch hạch đã bùng phát ở Đông Phổ lúc bấy giờ. Sau khi bệnh dịch xảy ra, bệnh viện được dùng làm bệnh viện từ thiện cho người nghèo. Vào ngày 9 tháng 1 năm 1727, Frederick William I đã đặt tên Charité cho bệnh viện (nghĩa là từ thiện).

Số nhân viên: 12.000

Số giường bệnh: 3,213

6. Bệnh viện Trung tâm Đại học HelsinkiPhần Lan

Bệnh viện Trung tâm Đại học Helsinki là bệnh viện đại học lớn nhất ở Phần Lan và là một trong những bệnh viện lớn nhất ở Châu Âu. Nó bao gồm 17 bệnh viện ở Helsinki, Espoo và Vantaa, và có tất cả các chuyên khoa chính.

bệnh viện lớn nhất thế giới

Trong số 17 bệnh viện, bệnh viện Töölö là một trong những trung tâm chấn thương lớn nhất ở Bắc Âu. Bệnh viện cung cấp dịch vụ cấp cứu 24/7, với 20.000 bệnh nhân chấn thương được điều trị hàng năm. Khi có thảm họa, bệnh viện Töölö là trung tâm y tế chuyên khoa chăm sóc cho người dân ở toàn vùng Uusimaa.

Một trong số 17 bệnh viện là Bệnh viện Meilahti Tower, nằm trong khuôn viên bệnh viện Meilahti và là một phần của Bệnh viện Trung tâm Đại học Helsinki. Ở Phần Lan, tất cả các ca ghép tạng đều được thực hiện độc quyền tại đây.

Số nhân viên: 13.700

Số giường bệnh: 3.600

7. Bệnh viện Đại học Sahlgrenska – Thụy Điển

Bệnh viện Đại học Sahlgrenska là một hệ thống các bệnh viện liên kết với Học viện Sahlgrenska thuộc Đại học Gothenburg, thành phố Gothenburg, Thụy Điển.

Bệnh viện ban đầu được đặt theo tên của Niclas Sahlgren, một thương nhân người Thụy Điển và giám đốc của Công ty Đông Ấn Thụy Điển, sau khi ông quyên góp kinh phí xây dựng bệnh viện vào năm 1772. Ngày nay, Bệnh viện Đại học Sahlgrenska đã phát triển và trở thành một trong những bệnh viện lớn nhất ở Bắc Âu.

Tại Thụy Điển, bệnh viện đã được trao các nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe quốc gia ở nhiều lĩnh vực y tế hơn bất kỳ bệnh viện nào khác trên cả nước. Thực tế, nhiều phương pháp điều trị tạo ra sự khác biệt lớn cho bệnh nhân trên khắp thế giới đã được phát triển tại đây.

Số nhân viên: 17.000

Số giường bệnh: 2.300

8. Bệnh viện Clínicas da Faculdade de Medicina da Universidade de São Paulo – Brazin

Bệnh viện Clínicas da Faculdade de Medicina da Universidade de São Paulo là một tổ hợp y tế, nằm ở nhiều vùng khác nhau của thành phố São Paulo, Brazil.

Được thành lập vào ngày 19 tháng 4 năm 1944, có tổng diện tích 600.000 m2 và có 2.500 giường, bao gồm 8 viện chuyên khoa và 2 bệnh viện phụ trợ.

Tám viện chuyên khoa thuộc Bệnh viện Clínicas bao gồm: Viện Trung tâm, Viện Tâm thần, Viện Tim, Viện X quang, Viện Ung thư, Viện Trẻ em và Vị thành niên, Viện Chỉnh hình và Chấn thương, Viện Y học Vật lý và Phục hồi chức năng. Ngoài ra, còn có bệnh viện phụ trợ Suzano và Viện nghiện rượu và nghiện ma túy.

Số nhân viên: 19.000

Số giường bệnh: 2.500

9. Bệnh viện Đại học Oslo – Na Uy

Với hơn 24.000 nhân viên, Bệnh viện Đại học Oslo là một trong những bệnh viện lớn nhất thế giới và lớn nhất ở Bắc Âu.

Bệnh viện Đại học Oslo được thành lập với sự sát nhập của 3 bệnh viện đại học ở Oslo lúc bấy giờ vào năm 2009. Bệnh viện được liên kết với Khoa Y của Đại học Oslo và là một trong những viện nghiên cứu y khoa lớn nhất ở Châu Âu.

Bệnh viện bao gồm 14 khoa, ngoài một đơn vị quản lý trung tâm, văn phòng giám đốc và một bộ phận cung cấp dịch vụ phi y tế cho phần còn lại của bệnh viện.

Số nhân viên: 24.000

Số giường bệnh: 1.870

10. Bệnh viện Johns Hopkins – Mỹ

Bệnh viện Johns Hopkins là bệnh viện giảng dạy và cơ sở nghiên cứu y sinh của Trường Y khoa Johns Hopkins, thành phố Baltimore, bang Maryland, Mỹ.

Bệnh viện được thành lập vào năm 1889 với kinh phí xây dựng hơn 7 triệu đô la vào thời điểm đó (trị giá 134,7 triệu đô la vào năm 2020) với sự đóng góp của thương gia, chủ ngân hàng/nhà tài chính, giám đốc dân sự và nhà từ thiện Johns Hopkins.

Bệnh viện Johns Hopkins và Trường Y khoa John Hopkins được coi là những tổ chức sáng lập của nền Y học hiện đại tại Mỹ và là nơi sản sinh ra nhiều truyền thống y học nổi tiếng bao gồm “rounds”, “residents” và “house staff”.

Bệnh viện được coi là một trong những bệnh viện và viện y khoa lớn nhất thế giới.

Số nhân viên: 30.000

Số giường bệnh: 1.091

Yhocvn.net

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Xu hướng bệnh viện của tương lai sau cuộc cách mạng 4.0 và đại dịch

+ Tiêu chí đánh giá phòng khám, bệnh viện tư nhân đủ tiêu chuẩn, chuẩn mức cao

+ Giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân dưới gốc độ của truyền thông chánh niệm

The post 10 bệnh viện lớn nhất thế giới năm 2020 appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Phi công người Anh: một kỳ tích y khoa https://yhocvn.net/benh-nhan-phi-cong-nguoi-anh-nhu-mot-ky-tich-trong-y-khoa.html Mon, 29 Jun 2020 15:44:58 +0000 https://yhocvn.net/?p=412676 Bệnh nhân phi công người Anh: Như một kỳ tích trong y khoa “Tin phi công người Anh hoàn toàn tỉnh táo khiến các y bác sĩ từng điều trị cho anh rất vui. Có lẽ mọi người dân Việt đều cảm thấy xúc động và ấm áp. Bệnh nhân 91 đã hoàn toàn tỉnh […]

The post Phi công người Anh: một kỳ tích y khoa appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Bệnh nhân phi công người Anh: Như một kỳ tích trong y khoa

“Tin phi công người Anh hoàn toàn tỉnh táo khiến các y bác sĩ từng điều trị cho anh rất vui. Có lẽ mọi người dân Việt đều cảm thấy xúc động và ấm áp. Bệnh nhân 91 đã hoàn toàn tỉnh táo, thật là kỳ diệu, đó như là một kỳ tích trong y khoa”.

Đó là chia sẻ của bác sĩ Nguyễn Thanh Phong, trưởng khoa nhiễm D Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM.

Chưa từng có trong y văn thế giới

Bác sĩ Phong cùng tập thể y bác sĩ của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới đã điều trị trực tiếp cho bệnh nhân 91 suốt hơn 2 tháng, trước khi bệnh nhân này được chuyển sang Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM để tiếp tục được điều trị, chuẩn bị ghép phổi.

Đây là một ca bệnh rất đặc biệt, bệnh nhân mắc COVID-19, là bệnh dịch mới trên thế giới, nguy cơ lây bệnh rất cao cho nhân viên y tế. Đây còn là một bệnh nhân người nước ngoài với diễn tiến bệnh vô cùng phức tạp, chưa từng có trong y văn thế giới!

Bệnh nhân số 91: Phi công người anh bình phục là một kỳ tích y khoa

Kỳ tích y học với bệnh nhân số 91: Phi công người anh

Nhớ lại những ngày đầu điều trị cho bệnh nhân 91, bác sĩ Phong chia sẻ khi mới nhập viện, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, đi lại bình thường. Bệnh nhân không chịu ăn thức ăn Việt nên nhân viên y tế của bệnh viện đã phải liên hệ với nơi công tác của bệnh nhân là Vietnam Airlines để hỗ trợ đặt thức ăn riêng. Vài ngày sau bệnh nhân mới bị suy hô hấp tăng dần, cần được hỗ trợ hô hấp thở oxy mũi. Từ ngày 25-3, bệnh nhân phải chuyển sang thở oxy qua mặt nạ. Đến ngày 5-4 phải thở máy xâm lấn và từ 6-4 phải can thiệp ECMO ngay tại phòng cách ly áp lực âm…

Cả tập thể y bác sĩ của bệnh viện đã trải qua chuỗi ngày muôn vàn gian nan để cứu bệnh nhân, không còn khái niệm về thời gian. “Có khi tôi không để ý hôm nay là thứ mấy, ngày mấy vì hầu như ai cũng phải làm thêm giờ, túc trực bệnh viện thường xuyên, bất kể cuối tuần, đêm hôm”, bác sĩ Phong nhớ lại. Với các bác sĩ điều trị cho bệnh nhân 91, đó là những ngày “rất cực, quá tải, rất mệt”, ngay cả “lúc ngủ cũng nằm mơ thấy phác đồ điều trị cho nam phi công”.

Lằn ranh sinh tử

Phi công người Anh là một trong hai ca nhiễm COVID-19 nặng nhất tại Việt Nam, phải chạy máy ECMO. Điều trị cho bệnh nhân này luôn có một êkip túc trực, gồm một bác sĩ và hai điều dưỡng Bệnh viện Bệnh nhiệt đới ngay bên bệnh nhân để theo dõi sát những diễn biến. Do đây là căn bệnh lây nhiễm, bác sĩ, điều dưỡng trực đều phải mặc đồ bảo hộ chuyên dụng để tránh lây bệnh, cứ 3-4 giờ lại phải thay êkip trực trong phòng áp lực âm.

Bệnh nhân này đã có nhiều giai đoạn nguy kịch, ranh giới giữa sự sống và cái chết thật mong manh. Đó cũng là những lần bác sĩ Phong cùng nhiều đồng nghiệp “thót tim” theo diễn biến của bệnh nhân. Đỉnh điểm của cơn “thót tim” này là khi hai phổi của bệnh nhân đông đặc, chỉ còn 10% hoạt động. Các bác sĩ đã tìm mọi cách điều trị để nâng chức năng hoạt động của phổi lên được 20%…

Điều trị cho ca bệnh nặng này cần đến sự tham gia của cả một tập thể từ ban giám đốc bệnh viện đến các y bác sĩ điều trị trực tiếp. Ngoài ra còn phải kể đến sự tham gia hội chẩn trực tuyến bất kể ngày hay đêm của các chuyên gia hàng đầu từ Hà Nội, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới để tìm hướng điều trị tốt nhất cho bệnh nhân mỗi khi bệnh nhân có những diễn tiến nguy kịch.

Hơn cả những đóa hoa

Trong những ngày đầu điều trị và chăm sóc những bệnh nhân nhiễm COVID -19 đầu tiên tại khoa nhiễm D, tôi và các đồng nghiệp liên tục trau dồi, cập nhật những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm điều trị, tình hình dịch bệnh đang diễn tiến trong và ngoài nước…

Để luôn giữ lửa cho cuộc chiến dài ngày này, tôi thường xuyên động viên các “chiến binh áo trắng” của mình phải luôn giữ vững ý chí và tinh thần thép để đối phó với đại dịch, với ngay cả trong tình huống xấu nhất có thể.

Vẫn biết khi xác định dấn thân vào cuộc chiến này là phải đối mặt với những nguy cơ lây nhiễm cao từ người bệnh, nhưng đội ngũ nhân viên khoa chúng tôi đã luôn sẵn sàng căng mình, nỗ lực hết sức mong làm được những điều tốt nhất để chữa khỏi cho bệnh nhân.

Chúng tôi luôn tâm niệm rằng việc cứu sống bệnh nhân và nhìn thấy bệnh nhân được bình phục từng ngày là mong muốn, cũng là niềm vui lớn nhất của chúng tôi. Điều đó còn hơn cả những đóa hoa hay lời cảm ơn từ bệnh nhân mà chúng tôi nhận được.

Yhocvn.net (Theo BS Nguyễn Thanh Phong – trưởng khoa nhiễm D Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM.)

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19

The post Phi công người Anh: một kỳ tích y khoa appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Hệ thống 911: Giải pháp tuyệt vời, chính xác https://yhocvn.net/giai-phap-tuyet-voi-chinh-xac-cua-he-thong-911-my.html Mon, 29 Jun 2020 15:17:51 +0000 https://yhocvn.net/?p=412664 Giải pháp tuyệt vời, chính xác của hệ thống 911 – Mỹ Năm 1967, Bộ Tư pháp Mỹ chính thức ra văn bản về việc xây dựng hệ thống điện thoại khẩn trên toàn quốc, sử dụng một số thống nhất. Tháng 1/1968, nhà cung cấp dịch vụ điện thoại lớn nhất nước Mỹ thời […]

The post Hệ thống 911: Giải pháp tuyệt vời, chính xác appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Giải pháp tuyệt vời, chính xác của hệ thống 911 – Mỹ

Năm 1967, Bộ Tư pháp Mỹ chính thức ra văn bản về việc xây dựng hệ thống điện thoại khẩn trên toàn quốc, sử dụng một số thống nhất.

Tháng 1/1968, nhà cung cấp dịch vụ điện thoại lớn nhất nước Mỹ thời bấy giờ là AT&T được ủy nhiệm và tuyên bố số điện thoại 911 là số điện thoại khẩn toàn quốc. Tuy nhiên, chỉ 35 ngày sau, với nhiều lý do và các tác động khác nhau, Công ty Viễn thông Alabama đã đánh bại AT&T để độc quyền vận hành hệ thống 911.

Năm 1975, sự phát triển công nghệ đã cho phép hệ thống 911 phân loại các cuộc gọi về các mục đích khác nhau để nhanh chóng chuyển đến các trung tâm xử lý. Cũng trong thập niên 70 thế kỷ trước, công nghệ xác định số gọi đến tự động (mà hiện nay đang rất phổ dụng gọi là Call ID) giúp người tiếp nhận tin biết được số điện thoại của người đang cung cấp tin.

Tháng 1/1980, phiên bản công nghệ của 911 được nâng cấp, cho phép không chỉ biết được số điện thoại của người gọi đến mà còn xác định được vị trí của số điện thoại đang gọi.

Hiện nay, người dân tại 95% lãnh thổ Mỹ đã được tiếp cận và có thể sử dụng hệ thống 911. Khi sử dụng hệ thống này, người dân chỉ cần bấm 3 số 911 để có thể thông báo hoặc nhờ sự trợ giúp của nhà chức trách địa phương liên quan đến các vấn đề như cảnh sát, cứu hỏa và cấp cứu y tế. 911 có thể được coi là trung tâm thông tin, điều hành, chỉ huy cho các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn.

Khi có cuộc gọi đến, hệ thống 911 sẽ tự động xác định vị trí người gọi kể cả khi người gọi không nói được từ nào, đồng thời chuyển cuộc gọi tới trung tâm xử lý tin gần nhất. Trong những tình huống khẩn cấp, việc xác định chính xác vị trí người gọi là rất quan trọng, tuy nhiên, xác định vị trí chỉ được thực hiện khi người gọi cấp cứu sử dụng điện thoại cố định. Hiện nay, hơn 80% cuộc gọi cấp cứu là gọi bằng điện thoại di động, nên việc định vị chính xác để tiếp cận hiện trường sẽ gặp khó khăn. Mới đây, tại Mỹ, đã triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng mới giúp giải quyết được khó khăn này, hệ có thêm khả năng xác định vị trí của số điện thoại di động gọi tới hệ thống với sai số tối đa chỉ 100m.

Tại Mỹ, ước tính của chuyên gia đưa ra là mỗi năm, ít nhất là 10.000 người có thể được cứu sống nếu như tổng đài 911 có thể tới được địa điểm của người bị nạn sớm hơn chỉ một phút. Công nghệ hiện đại hơn sẽ đặc biệt hiệu quả trong trường hợp này, khi mà người bị nạn đang không thể nói chính xác địa điểm hiện tại của mình.

Khoảng 80% trong số 240 triệu cuộc gọi tới tổng đài 911 hàng năm được thực hiện bằng điện thoại di động. Với đường điện thoại bàn, hệ thống sẽ chỉ ra địa chỉ chính xác của người gọi. Với điện thoại di động, hệ thống chỉ có thể đưa ra bán kính ước tính của người gọi mà thôi, bán kính ấy đôi khi rộng để cả vài trăm mét. Mới đây, với mục đích gia tăng an toàn công cộng, Chính phủ Mỹ cho phép các nhà mạng cung cấp dữ liệu thuê bao điện thoại di động phối hợp với các doanh nghiệp CNTT nghiên cứu tạo ra các ứng dụng định vị vì mục đích an toàn công cộng.

Trong số các doanh nghiệp CNTT nghiên cứu về giải pháp định vị có thể nhắc đến RapidSOS, đây là một công ty khởi nghiệp (start-up) tại Mỹ đã hợp tác với Google và Apple để cung cấp thông tin vị trí người gọi số 911 cho các cơ quan an toàn công cộng trên toàn quốc. Thông thường, người gọi trong tình huống khẩn cấp thường cúp máy trong vòng 25 hoặc 30 giây đầu tiên, do đó người tiếp nhận cuộc gọi của trung tâm cấp cứu (call taker) không thể xác định ra vị trí rõ ràng.

Với RapidSOS Portal, thông tin về vị trí người gọi có sẵn ngay lập tức và được truyền đi cùng lúc cuộc gọi thoại đến 911 được thực hiện, người tiếp nhận cuộc gọi có thể bấm số điện thoại và lấy dữ liệu vị trí đó ngay lập tức, cho dù người đó có cúp máy trong 5 hoặc 10 giây đầu tiên của cuộc gọi.

Với việc kích hoạt dịch vụ định vị khẩn cấp Android (ELS), các trung tâm liên lạc khẩn cấp giờ đây sẽ nhận được vị trí người gọi nhanh hơn và chính xác hơn cho các cuộc gọi 911 từ các thiết bị Android và Ios. “RapidSOS Clearinghouse NG911” là một dịch vụ miễn phí phục vụ cho an toàn công cộng, và được tích hợp với tất cả các nhà cung cấp chính của phần mềm gọi, gửi và lập bản đồ 911.

Yhocvn.net

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Ứng dụng telemedicine tại các nước đang phát triển

The post Hệ thống 911: Giải pháp tuyệt vời, chính xác appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
‘Cổng thông tin người bệnh’ tại Estonia phát triển hiểu quả như thế nào? https://yhocvn.net/cong-thong-tin-suc-khoe-dien-tu-tai-estonia-phat-trien-hieu-qua-nhu-the-nao.html Mon, 29 Jun 2020 14:44:17 +0000 https://yhocvn.net/?p=412661 Cổng thông tin sức khoẻ điện tử tại Estonia phát triển hiểu quả như thế nào? Estonia cũng là một quốc gia phát triển hiệu quả cổng thông tin sức khoẻ điện tử (eHealth portal) cho phép người dân truy cập và tương tác nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Người dân cũng phải […]

The post ‘Cổng thông tin người bệnh’ tại Estonia phát triển hiểu quả như thế nào? appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Cổng thông tin sức khoẻ điện tử tại Estonia phát triển hiểu quả như thế nào?

Estonia cũng là một quốc gia phát triển hiệu quả cổng thông tin sức khoẻ điện tử (eHealth portal) cho phép người dân truy cập và tương tác nhiều dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Người dân cũng phải báo cáo định kỳ hoặc đột xuất tình trạng sức khoẻ lên cổng thông tin quốc gia. Cổng thông tin sức khoẻ điện tử tại Estonia có tên là “Cổng thông tin người bệnh” (Patient Portal, gọi tắt là PP), là một phần của khung Y tế điện tử quốc gia Estonia.

Thông tin cơ bản về hệ thống chăm sóc sức khỏe của Estonia có thể tóm lược như sau:

+ 1,3 triệu dân

+ 80% người dân tiếp cận được internet

+ 40 bệnh viện công lập với 7.377 giường

+ 20 bệnh viện tư quy mô nhỏ

+ 830 bác sĩ thực hành tổng quát (GP) làm việc tại 472 phòng khám

+ 231 bác sĩ chuyên khoa tư nhân

+ 250 nhà thuốc, 15 quận (county)

+ 30 thành phố (city) và 1 BHYT công.

Năm 2005, Bộ Xã hội Estonia đã phát triển một chiến lược nhằm tạo ra một hệ thống chăm sóc sức khỏe tập trung hơn cho công dân quốc gia này thông qua dữ liệu lớn được chia sẻ qua các cấp độ chăm sóc khác nhau.

Các dịch vụ điện tử của hệ thống chăm sóc sức khoẻ ra đời nhằm cải thiện chất lượng phục vụ bằng cách cho phép người dân truy cập và sử dụng tốt hơn các dữ liệu sức khỏe có liên quan, cũng như tăng cường báo cáo các vấn đề liên quan đến sức khỏe và chi phí chăm sóc.

Tổ chức Y tế điện tử Estonia (Estonian E-health Foundation) là tổ chức chịu trách nhiệm chính về chuẩn hóa và phát triển các tài liệu y tế kỹ thuật số. Các cơ sở pháp lý có liên quan của “Cổng thông tin người bệnh” đã được ban hành vào năm 2007 với các quy định về bảo vệ dữ liệu trong truyền dẫn điện tử.

Cổng thông tin người bệnh được thành lập cho phép người dân xem dữ liệu được thu thập thông qua 4 dịch vụ y tế điện tử khác. Cổng thông tin người bệnh cho phép mọi người dân xem và sửa đổi thông tin cá nhân được thu thập từ các cơ sở dữ liệu công cộng khác nhau. Cổng thông tin người bệnh cũng bao gồm thông tin về bác sĩ thực hành tổng quát (GP) và bảo hiểm y tế. Người dân có thể bổ sung và thay đổi thông tin hiện có, tuy nhiên không làm thay đổi thông tin ở những nơi khác bên ngoài Cổng thông tin người bệnh.

Cổng thông tin người bệnh còn cho phép truyền đạt các quyền của người bệnh và các yêu cầu gửi đến cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, ví dụ như chấp nhận truyền máu (theo chỉ định của bác sĩ) hoặc đăng ký trở thành người hiến tạng. Ngoài ra, người dân có thể chỉ định người khác trở thành người được ủy thác, cho phép người được uỷ thác xem thông tin y tế cá nhân hoặc thay mặt mua thuốc theo toa. Tất cả thông tin về thuốc được kê đơn và thuốc mua đều có sẵn thông qua Cổng thông tin người bệnh.

Một trong những chức năng trung tâm của Cổng thông tin người bệnh là các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có nghĩa vụ làm các bản tóm tắt chăm sóc bệnh nhân nội trú và ngoại trú và gửi đến nền tảng trung tâm. Thời hạn gửi thông tin là trong vòng 5 ngày làm việc đối với bệnh nhân nội trú và 1 ngày làm việc đối với các dịch vụ chăm sóc ngoại trú. Các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe gửi một bản tóm tắt cho mỗi đợt chăm sóc ngoại trú, không nhất thiết cho mỗi lần đến bác sĩ thăm khám. Bản tóm tắt chăm sóc bệnh nhân ngoại trú cũng bao gồm cả các dịch vụ được cung cấp tại các đơn vị phẫu thuật trong ngày.

Cổng thông tin người bệnh cũng bao gồm các thông tin về tiêm chủng được thực hiện tại các phòng khám ban đầu của bác sĩ GP hoặc tại trường học. Tóm tắt lúc sinh là tài liệu đầu tiên được chèn vào PP cho người mới sinh. Trẻ em từ 0-19 tuổi còn có thêm thông tin kiểm tra sức khoẻ định kỳ tại các phòng khám GP hoặc tại trường.

Các kết quả xét nghiệm chẩn đoán được trình bày trong các bản tóm tắt chăm sóc được quy định áp dụng từ giữa năm 2014, theo quy định này thì tất cả các kết quả xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đều được đưa vào PP. Hình ảnh chẩn đoán được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu riêng biệt và chỉ các bác sĩ mới được phép truy cập. Kết quả chẩn đoán hình ảnh với các mô tả của bác sĩ X quang đều có sẵn trong Cổng thông tin người bệnh.

Các chức năng mới nhất được thêm vào Cổng thông tin người bệnh là người dân tự báo cáo về tình trạng sức khỏe của mình do người dân tự điền vào. Chức năng này bao gồm thông tin về tình trạng sức khỏe của một người và hành vi liên quan đến sức khỏe.

Tài liệu này là bắt buộc để gia hạn một giấy phép lái xe như là một thông tin bổ sung cho bác sĩ trong quá trình kiểm tra sức khoẻ bắt buộc. Ngoài ra, kể từ năm 2015, các chương trình sàng lọc quốc gia về ung thư vú và ung thư cổ tử cung sẽ sử dụng dữ liệu từ PP để phát triển dân số mẫu hàng năm và gửi thư mời sàng lọc.

Sự phát triển tiếp theo trong tương lai của Cổng thông tin người bệnh tại Estonia là cho phép người dân đặt hẹn khám chữa bệnh ban đầu hoặc khám chuyên khoa trên phạm vi cả nước. Người bệnh nhân sẽ có thể đặt và hủy các cuộc hẹn thông qua Cổng thông tin người bệnh. Trong tương lai, Cổng thông tin người bệnh cũng sẽ bổ sung các bản tóm tắt chăm sóc cấp cứu liên quan đến các đội chăm sóc ngoài bệnh viện trên xe cứu thương. Người dân cũng có thể đặt lịch nhắc tái khám và gửi các thông tin được cập nhật tới tất cả các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe qua Cổng thông tin người bệnh.

Cổng thông tin sức khoẻ điện tử tại Estonia

Yhocvn.net (Tài liệu tham khảo: “Nationwide citizen access to their health data: analysing and comparing experiences in Denmark, Estonia and Australia” – Health Services Research, 2017)

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Làm gì để nâng cao sự hài lòng của người bệnh đối với bệnh viện, phòng khám

+ Hoạch định chiến lược bệnh viện: vì sao phải làm, cách thức, những sai lầm

+ Bác sĩ có nói dối không?

The post ‘Cổng thông tin người bệnh’ tại Estonia phát triển hiểu quả như thế nào? appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho bệnh viện tuyến cuối trong 10 năm tới https://yhocvn.net/muc-tieu-doi-moi-quan-ly-y-te-cho-benh-vien-tuyen-cuoi-trong-10-nam-toi.html Sun, 28 Jun 2020 04:31:10 +0000 https://yhocvn.net/?p=412644 Mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho bệnh viện tuyến cuối trong 10 năm tới Thông điệp, mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho các bệnh viện được đúc kết từ kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc trường Quản trị kinh doanh IESE (IESE Business School) thuộc Đại […]

The post Mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho bệnh viện tuyến cuối trong 10 năm tới appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho bệnh viện tuyến cuối trong 10 năm tới

Thông điệp, mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho các bệnh viện được đúc kết từ kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc trường Quản trị kinh doanh IESE (IESE Business School) thuộc Đại học Navarra có cơ sở ở Barcelona, Madrid và New York. Hai bệnh viện công lập hàng đầu ở Châu Âu được chọn để nghiên cứu là Bệnh viện Clinic of Barcelona – Tây Ban Nha và Bệnh viện Đại học Karolinska ở Stockholm – Thuỵ Điển. Công trình nghiên cứu đã đúc kết 14 thông điệp cho các bệnh viện tuyến cuối cần phấn đấu cho 10 năm tới.

Trong 10 năm tới, các bệnh viện sẽ phải đối phó với bối cảnh đầy thách thức, trong đó nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân sẽ tăng lên, với các bệnh mạn tính chiếm phần lớn chi phí chăm sóc sức khỏe và tuổi thọ người dân tiếp tục được cải thiện. Trong bối cảnh này, các bệnh viện tuyến cuối sẽ được kỳ vọng cung cấp các dịch vụ chăm sóc phức tạp tốt nhất, đồng thời giảm chi phí và sẽ phát triển một phạm vi dịch vụ kỹ thuật mới bao gồm y tế cá thể và chẩn đoán, điều trị dựa trên bộ gen.

Hơn nữa, sẽ có cơ hội cho các bệnh viện tuyến cuối cung cấp các dịch vụ chăm sóc mới cho bệnh mạn tính và quản lý sức khỏe dân số vì các công ty bảo hiểm y tế sẽ phát triển thêm các chương trình mới, chẳng hạn như các gói dịch vụ quản lý bệnh mạn tính bao gồm theo dõi, điều trị và quản lý bệnh.

Tham chiếu 3 mục tiêu chính trong chăm sóc sức khoẻ của Viện cải tiến y tế Hoa Kỳ (IHI), các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách y tế và các nhà quản lý bệnh viện ở châu Âu ngày càng quan tâm đến khuôn khổ 3 mục tiêu này, đó là:

+ (1) Cải thiện sức khỏe dân số,

+ (2) Cải thiện trải nghiệm của người bệnh, bao gồm chất lượng và sự hài lòng

+ (3) Giảm chi phí chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người.

Trong mạng lưới các cơ sở y tế, những bệnh viện giữ chức năng là một bệnh viện tuyến cuối cần phải có có hiệu suất cao về chăm sóc sức khỏe với các đặc điểm sau:

(1) Hiệu quả điều trị được chứng minh, cả về an toàn và chất lượng dịch vụ, vượt trội so với các bệnh viện khác trong cùng khu vực;

(2) Bệnh viện cung cấp các phương pháp điều trị cho các bệnh cấp tính với chuyên môn cao, bởi các chuyên gia hàng đầu, sử dụng thiết bị công nghệ cao;

(3) Vai trò hỗ trợ chuyên môn theo các yêu cầu của các cơ sở y tế khác trong khu vực;

(4)  Bệnh viện luôn đổi mới và thích ứng tốt với yêu cầu của xã hội;

(5) Sự công nhận của các tổ chức chăm sóc sức khỏe khác.

Bên cạnh những đặc điểm trên, các tác giả của công trình nghiên cứu đã đưa ra 14 thông điệp cho các bệnh viện tuyến cuối cần thích ứng trước những cơ hội và thách thức mới trong tương lai, bao gồm:

Thách thức kép cho các bệnh viện tuyến cuối

Bệnh viện tuyến cuối phải nỗ lực nhiều hơn nhằm đáp ứng cùng lúc 3 thách thức: (1) nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng, (2) trong bối cảnh giảm nguồn lực, và (3) các giá trị xã hội đang thay đổi.

Bệnh viện tuyến cuối phải tinh gọn hơn nhưng chuyên sâu hơn

Các bệnh viện tuyến cuối cần tập trung vào các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, kỹ thuật phức tạp có giá trị cao, đảm bảo là một tổ chức có hiệu quả cao, không tập trung quá nhiều các kỹ thuật chuyên môn của một bệnh viện tuyến thấp hơn. Các dịch vụ kỹ thuật không phức tạp, chi phí thấp sẽ được chuyển từ các bệnh viện tuyến cuối sang các bệnh viện khu vực và bệnh viện cộng đồng.

Mở rộng phạm vi về hoạt động chuyên môn cho bệnh viện tuyến cuối

Các bệnh viện tuyến cuối chuẩn bị đón nhận và triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới như y học cá nhân và chẩn đoán dựa trên bộ gen, với một phạm vi cung ứng dịch vụ rộng hơn, bao gồm quản lý chăm sóc bệnh mạn tính từ phòng ngừa, chẩn đoán, giám sát, can thiệp và quản lý bệnh nhân từ xa, phối hợp lập kế hoạch chăm sóc với các cơ sở y tế cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác.

Vai trò kép trong tiếp nhận bệnh nhân ở bệnh viện tuyến cuối

Các bệnh viện tuyến cuối là nơi tiếp nhận và điều trị cho những bệnh nhân được chuyển đến do quá khả năng của các bệnh viện tuyến dưới. Bên cạnh đó, bệnh viện tuyến cuối cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ khác như phòng ngừa, chăm sóc sức khoẻ tâm thần,… cho cộng đồng thuộc lưu vực nơi bệnh viện đang hoạt động.

Vai trò kép này cho phép bệnh viện tuyến cuối duy trì khối lượng hoạt động cần thiết đối với các nguồn lực và chuyên gia sẵn có của bệnh viện, nhằm đổi mới các phương pháp điều trị phức tạp cũng như trong quản lý bệnh tật.

Tái thiết kế dịch vụ chăm sóc trên nền tảng tri thức

Tri thức của bệnh viện tuyến cuối đóng vai trò trung tâm trong việc thiết kế lại và lập kế hoạch các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Hệ thống y tế công cộng sẽ thực hiện tái cấu trúc các dịch vụ hướng tới hiệu quả và chất lượng, phải dựa trên bằng chứng khoa học và được thúc đẩy bởi tri thức. Tri thức cần thiết cho việc thiết kế lại này vốn có sẵn tại các bệnh viện tuyến cuối, nơi có nhiều chuyên gia hàng đầu theo từng lĩnh vực.

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống y tế, cả y tế tư nhân và y tế công cộng, các bệnh viện tuyến cuối sẽ tham gia đổi mới các dịch vụ y tế như phát triển các dịch vụ mới và triển khai các công nghệ chăm sóc sức khỏe mới.

Bệnh viện nhỏ nhưng mở rộng

Bệnh viện tuyến cuối không nhất thiết phải là một bệnh viện có cơ sở hạ tầng to với quy mô giường bệnh lớn, thay vào đó là có nhiều cơ sở vệ tinh để có thể cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại các địa điểm khác nhau để người dân tiếp cận bệnh viện gần hơn về mặt địa lý, với các quy trình chăm sóc không chỉ tại bệnh viện mà còn chăm sóc tại nhà và cung cấp dịch vụ tại các cơ sở y tế được chia sẻ với các mức chăm sóc khác nhau.

Trung tâm đổi mới về công nghệ và dịch vụ

Các bệnh viện tuyến cuối sẽ là trung tâm mô phỏng về phát triển và đổi mới công nghệ y tế, đổi mới quy trình chăm sóc. Cải tiến quy trình chăm sóc bao gồm các quy trình chuyên môn, quy trình chăm sóc người bệnh liên tục dựa trên việc áp dụng các phương pháp tinh gọn (lean method) để nâng cao giá trị và hiệu quả của dịch vụ y tế. Bệnh viện tuyến cuối đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, là nơi tham khảo về cải tiến và tính minh bạch của các dịch vụ y tế công cộng, bằng cách cung cấp các chuẩn và bằng chứng cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác.

Trung tâm nghiên cứu và đào tạo

Bệnh viện tuyến cuối tiếp tục là trung tâm nghiên cứu và đào tạo chuyên khoa, là nơi cung cấp kiến thức và kỹ năng cho các bác sĩ, điều dưỡng của các bệnh viện khác trong khu vục. Nghiên cứu gắn liền với các sáng kiến về kiểm soát chi phí, gắn liền với đổi mới. Phối hợp với các cơ sở chăm sóc sức khỏe khác tạo ra mạng lưới nghiên cứu ở cấp địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế.

Chia sẽ rủi ro với các đối tác

Bệnh viện tuyến cuối sẽ phát triển các mô hình chia sẻ rủi ro với các công ty bảo hiểm và các nhà cung cấp khác. Trong tương lai, khi xuất hiện các phương thức thanh toán mới như thanh toán theo kết quả, bệnh viện phải xem xét lại các mô hình và cấu trúc doanh thu của họ, trong đó, áp dụng các mô hình doanh thu mới là giảm chi phí điều trị và tìm các cơ hội mới mà chỉ có các bệnh viện công hay tư nhân mới có thể cung cấp. Khuôn khổ của mối quan hệ giữa bệnh viện với các nhà cung cấp sẽ thay đổi và giới thiệu các mô hình chia sẻ rủi ro, ví dụ trong việc cung cấp các sản phẩm dược.

Nhà chuyên môn tham gia quản trị bệnh viện

Các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn của bệnh viện tích cực tham gia vào công tác quản lý và lãnh đạo của tổ chức, triển khai thực hiện chiến lược phát triển của bệnh viện. Các chuyên gia hàng đầu của bệnh viện sẽ giữ vai trò tích cực trong việc quản lý và cải tiến chất lượng, không chỉ trong bệnh viện mà còn trong mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Khi các bệnh viện tuyến cuối trở thành một tổ chức mở sẽ thúc đẩy sự hợp tác giữa các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng.

Hình thành các nhóm chăm sóc tích hợp

Tổ chức làm việc theo nhóm và tìm cách tạo ra các mô hình chăm sóc tích hợp với phạm vi mở rộng ra ngoài bệnh viện. Để làm được điều đó, các chuyên gia của bệnh viện sẽ chia sẻ kiến thức lâm sàng với các cấp độ chăm sóc và các nhà cung cấp khác trong mạng lưới khám chữa bệnh. Để mạng lưới này hoạt động hiệu quả, bệnh viện tuyến cuối sẽ đẩy mạnh các mô hình chăm sóc tích hợp, tạo ra một tổ chức chăm sóc tích hợp hợp nhất hoặc một tổ chức chăm sóc tích hợp ảo (đa thực thể với một cơ quan quản trị chung).

Bệnh viện kết nối với người bệnh tại nhà

Cải thiện trải nghiệm của người bệnh sẽ dẫn đến mô hình bệnh viện kết nối, các bác sĩ sẽ tiếp cận để phối hợp chăm sóc cho bệnh nhân ở nhà. Dự báo trong 15 năm tới, bệnh nhân sẽ dành ít thời gian hơn cho bệnh viện và các cơ sở y tế, cần các phương thức tương tác mới giữa bệnh nhân và các chuyên gia của bệnh viện.

Công nghệ thông tin sẽ được sử dụng để dự đoán nhu cầu, cá nhân hóa các quy trình chăm sóc sức khỏe và theo dõi và kết nối với bệnh nhân ở bất cứ nơi đâu, sử dụng tư vấn ảo, không chỉ riêng lẻ mà còn giữa một nhóm và bệnh nhân. Những thay đổi này sẽ dẫn đến bệnh nhân có vai trò tích cực hơn trong việc thiết kế các dịch vụ của bệnh viện và tham gia vào các hoạt động để thiết kế lại các quy trình chăm sóc.

Cần những loại hình nhân viên mới

Bệnh viện tuyến cuối sẽ cần các huấn luyện viên sức khỏe, cố vấn di truyền, người quản lý trường hợp bệnh tật cụ thể, chuyên gia công nghệ thông tin và các “kỹ sư trung gian”. Các bệnh viện tuyến cuối sẽ cần những vai trò chuyên môn mới để quản lý trường hợp bệnh tật cụ thể, quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe cá nhân, phối hợp nhóm và theo dõi bệnh nhân, tiếp xúc và tư vấn đầu tiên cho bệnh nhân trong các nhóm bệnh cụ thể.

Các chuyên gia sẽ làm việc trong các nhóm đa ngành và theo định hướng, làm mờ ranh giới hiện có giữa các bác sĩ, y tá và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác.

Đổi mới theo hướng lấy người bệnh làm trung tâm

Bệnh viện tuyến cuối sẽ thiết kế lại một cách có hệ thống để người bệnh trải nghiệm các dịch vụ chăm sóc do bệnh viện cung ứng với sự đổi mới thực sự theo hướng lấy người bệnh làm trung tâm. Các dịch vụ của bệnh viện cần được phát triển cả về chuyên môn và đáp ứng sự mong đợi của người bệnh.

Sự đổi mới của bệnh viện sẽ thúc đẩy việc hình thành mối hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác để khám phá, có ý tưởng và thử nghiệm các dịch vụ mới cho bệnh nhân. Sự tham gia của người bệnh vào việc thiết kế lại các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ làm thay đổi nhận thức của họ về các dịch vụ y tế luôn cải thiện chất lượng.

Yhocvn.net (Tài liệu tham khảo: “Hospital of the Future – A New Role for Leading Hospitals in Europe” – Center for Research in Healthcare Innovation Management, https://media.iese.edu)

BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Cách hạn chế sai sót thuốc trong bệnh viện?

+ Quản trị nguồn nhân lực bệnh viện, phòng khám

+ Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng hệ thống thông tin bệnh viện

The post Mục tiêu đổi mới quản lý y tế cho bệnh viện tuyến cuối trong 10 năm tới appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” https://yhocvn.net/to-chuc-y-te-the-gioi-chinh-thuc-phat-hanh-tai-lieu-xu-tri-lam-sang-covid-19.html Sat, 27 Jun 2020 10:28:56 +0000 https://yhocvn.net/?p=412632 Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” Ngày 27/05/2020, lần đầu tiên Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” (Clinical management of COVID-19). Đây là tài liệu hướng dẫn dựa trên các chứng […]

The post Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>
Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19”

Ngày 27/05/2020, lần đầu tiên Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” (Clinical management of COVID-19). Đây là tài liệu hướng dẫn dựa trên các chứng cứ khoa học về công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân mắc COVID-19, tài liệu này rất cần được phổ biến rộng rãi tại tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn thế giới. Sở Y tế giới thiệu đến các bệnh viện và các cơ sở y tế để nghiên cứu và cập nhật thông tin.

Lần đầu tiên, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã phát hành tài liệu hướng dẫn về công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân mắc COVID-19 một cách toàn diện và đầy đủ nhất (27/05/2020)

Hướng dẫn này đã được mở rộng đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu của các bác sĩ lâm sàng tại các tuyến đầu tham gia chăm sóc bệnh nhân mắc COVID-19 không ngoài mục đích đảm bảo chất lượng chăm sóc.

Hướng dẫn được thiết kế dựa trên các ưu tiên mang tầm chiến lược của công tác phòng chống dịch COVID-19 và dành cho các bác sĩ lâm sàng liên quan trực tiếp đến công tác chăm sóc bệnh nhân nghi mắc hoặc xác định mắc COVID-19. Tài liệu không thay thế đánh giá lâm sàng hoặc ý kiến tư vấn của các chuyên gia mà giúp tăng cường công tác quản lý lâm sàng tại các tuyến trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Tài liệu dành sự chú ý đặc biệt cho các quần thể dễ bị tổn thương như bệnh nhân nhi, người cao tuổi và phụ nữ mang thai, được nhấn mạnh trong suốt tài liệu hướng dẫn.

Các nội dung sau đây trong tài liệu hướng dẫn là hoàn toàn mới: Con đường chăm sóc COVID-19 (COVID-19 care pathway); Điều trị các bệnh nhiễm trùng cấp tính và mạn tính; Xử trí các biểu hiện thần kinh và tâm thần, các bệnh không lây nhiễm; Phục hồi chức năng; Chăm sóc giảm nhẹ; Các nguyên tắc đạo đức; Báo cáo tử vong.

Tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” nhấn mạnh một số thay đổi chính trong công tác điều trị, bao gồm:

– Ngưng các biện pháp phòng ngừa lây truyền (bao gồm cách ly) và giải phóng người bệnh khỏi con đường chăm sóc COVID-19: Đối với bệnh nhân có triệu chứng: 10 ngày sau khi khởi phát triệu chứng, cộng thêm ít nhất 3 ngày không có triệu chứng (không có sốt và triệu chứng hô hấp). Đối với bệnh nhân không có triệu chứng: 10 ngày sau khi có kết quả dương tính.

– Điều trị nhiễm trùng cấp tính phối hợp: Đối với các trường hợp nghi mắc hoặc xác định mắc COVID-19 nhẹ, không có chỉ định sử dụng kháng sinh hoặc điều trị dự phòng. Đối với các trường hợp nghi mắc hoặc xác định mắc COVID-19 trung bình, không kê đơn thuốc kháng sinh trừ khi lâm sàng có nghi ngờ nhiễm trùng do vi khuẩn.

– Phòng ngừa các biến chứng: Ở bệnh nhân (người lớn và vị thành niên) nhập viện vì COVID-19, sử dụng thuốc điều trị dự phòng, như heparin trọng lượng phân tử thấp (như enoxaparin), theo các chuẩn tại địa phương và quốc tế, để ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch, khi không có chống chỉ định. Đối với trường hợp có chống chỉ định, sử dụng dự phòng cơ học (thiết bị nén khí không liên tục).

Các khuyến nghị quan trọng trước đây vẫn còn giữ nguyên giá trị là:

– Thuốc kháng vi rút, thuốc điều hòa miễn dịch và các liệu pháp bổ trợ khác: TCYTTG khuyến cáo các loại thuốc được liệt kê trong nhóm này không được dùng dưới dạng điều trị hoặc dự phòng cho COVID-19, ngoài trừ sử dụng trong bối cảnh thử nghiệm lâm sàng.

– Corticosteroid: TCYTTG khuyến cáo không nên sử dụng corticosteroid toàn thân trong điều trị viêm phổi do vi rút.

Tài liệu “Clinical management of COVID-19” có 24 chương:

1. Tổng quan

2. Con đường chăm sóc COVID-19

3. Tầm soát và Sàng lọc: nhận biết sớm bệnh nhân mắc COVID-19

4. Thực hiện ngay các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn thích hợp

5. Xét nghiệm chẩn đoán

6. Xử trí COVID-19 nhẹ: điều trị triệu chứng

7. Xử trí COVID-19 trung bình: điều trị viêm phổi

8. Xử trí COVID-19 nặng: điều trị viêm phổi nặng

9. Xử trí COVID-19 nguy kịch: hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS)

10. Xử trí COVID-19 nguy kịch: sốc nhiễm trùng

11. Phòng ngừa các biến chứng ở bệnh nhân mắc COVID-19 nhập viện và nguy kịch

12. Thuốc kháng vi rút, điều hòa miễn dịch và các điều trị bổ trợ khác cho COVID-19

13. Điều trị corticosteroid và COVID-19 31

14. Điều trị bệnh nhiễm trùng cấp tính và mạn tính khác ở bệnh nhân mắc COVID-1

15. Xử trí các biểu hiện thần kinh và tâm thần liên quan đến COVID-19

16. Bệnh không lây nhiễm và COVID-19

17. Phục hồi chức năng cho bệnh nhân mắc COVID-19

18. Chăm sóc phụ nữ mắc COVID-19 trong và sau khi mang thai

19. Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của các bà mẹ mắc COVID-19

20. Chăm sóc người cao tuổi mắc COVID-19

21. Chăm sóc giảm nhẹ và COVID-19

22. Nguyên tắc đạo đức để chăm sóc tối ưu trong đại dịch COVID-19

23. Báo cáo tử vong trong đại dịch COVID-19

24. Nghiên cứu lâm sàng trong đại dịch COVID-19

Ngoài những hướng dẫn mới, tài liệu “Clinical management of COVID-19” được biên soạn dựa trên cơ sở các khuyến cáo khoa học vẫn còn giá trị từ ít nhất 7 tài liệu hướng dẫn trước đây của TCYTTG, bao gồm:

Yhocvn.net

BAQIF CÙNG CHỦ ĐỀ:

+ Covid-19 (SARS-coV-2): Quy trình phân loại cách ly

+ Virus corona chủng mới chiếm quyền kiểm soát thế nào?

The post Tổ chức Y tế Thế giới chính thức phát hành tài liệu “Xử trí lâm sàng COVID-19” appeared first on Yhocvn.net, Y học Bạch Mai.

]]>